Hoa hồi Việt Nam thu gần 44 triệu USD rộng cửa gia tăng giá trị xuất khẩu
Sở hữu lợi thế về vùng nguyên liệu và vị trí thứ hai thế giới về sản xuất hoa hồi, Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường gia vị. Tuy nhiên, để nâng cao giá trị xuất khẩu và duy trì sức cạnh tranh, ngành hàng cần tháo gỡ điểm nghẽn về tổ chức vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi cung ứng.
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu 1.657 tấn hoa hồi, đạt kim ngạch 5,3 triệu USD. So với tháng trước, lượng xuất khẩu tăng 41,5%, giá trị tăng 8,2%; còn so với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu tăng 75,3%. Đây là tháng ghi nhận lượng hoa hồi xuất khẩu cao nhất kể từ đầu năm, chủ yếu nhờ nhu cầu gia tăng từ thị trường Ấn Độ. Riêng trong tháng 9, thị trường này nhập khẩu hơn 1.100 tấn hoa hồi từ Việt Nam, chiếm 67,2% tổng lượng xuất khẩu, tăng 78,2% so với tháng trước và tăng 86,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 11.260 tấn hoa hồi, thu về 43,7 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu tăng nhẹ 0,6%, trong khi kim ngạch giảm 1,8%.
Ấn Độ tiếp tục là thị trường tiêu thụ chủ lực, với lượng nhập khẩu gần 7.000 tấn hoa hồi Việt Nam trong 9 tháng, chiếm 61,8% tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, con số này giảm 16,2% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu tại thị trường chủ lực vẫn có những biến động cần được doanh nghiệp theo dõi sát sao. Bên cạnh hoa hồi, quế cũng là mặt hàng gia vị xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Trong 9 tháng đầu năm, nước ta xuất khẩu 93.231 tấn quế, đạt kim ngạch 239,1 triệu USD, tăng 3% về lượng và 4,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Châu Á tiếp tục là thị trường chủ lực, chiếm 67% tổng lượng quế xuất khẩu, dù lượng xuất khẩu sang khu vực này giảm 5,8% so với cùng kỳ. Ngược lại, xuất khẩu sang châu Mỹ tăng 34,2%, đạt 20.063 tấn. Riêng thị trường Hoa Kỳ nhập khẩu 12.671 tấn quế Việt Nam, tăng 27,3%. Những kết quả trên cho thấy các mặt hàng gia vị của Việt Nam vẫn có dư địa phát triển tại thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để chuyển lợi thế về sản lượng thành giá trị kinh tế cao hơn, việc nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất theo chuỗi đang trở thành yêu cầu quan trọng.
Theo thông tin từ Hiệp hội Gia vị thế giới được VPSA dẫn lại, Việt Nam là nước sản xuất hoa hồi lớn thứ hai thế giới, sau Trung Quốc, với sản lượng ước khoảng 22.000 tấn mỗi năm trên diện tích trồng khoảng 55.000 ha.
Theo tài liệu của PROSEA (Plant Resources of South East Asia), hoa hồi, còn gọi là đại hồi, là cây gia vị có giá trị, với quả sau khi phơi khô được sử dụng trong chế biến thực phẩm và làm dược liệu. Loài cây này có vùng phân bố tương đối hạn chế, chủ yếu tại miền Bắc Việt Nam và một số địa phương của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, các vùng trồng hồi tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn, Quảng Ninh và Cao Bằng. Trong đó, Lạng Sơn có khoảng 40.000 ha, Quảng Ninh khoảng 8.600 ha và Cao Bằng khoảng 4.500 ha theo số liệu được cung cấp. Lợi thế về điều kiện tự nhiên giúp Việt Nam duy trì vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng hoa hồi toàn cầu. Không chỉ được sử dụng làm gia vị, hoa hồi còn có tiềm năng tạo giá trị gia tăng thông qua các sản phẩm tinh dầu, dược liệu, hương liệu và mỹ phẩm. Lá, cành cùng một số phụ phẩm cũng có thể được tận dụng để sản xuất túi thơm, hương và các sản phẩm thảo dược.
Dù vậy, sản xuất hoa hồi tại nhiều địa phương vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán. Theo bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPSA, hoa hồi thường được trồng ở các vùng núi cao, khiến việc tổ chức sản xuất, thu mua và xây dựng vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu xuất khẩu gặp không ít khó khăn.
Thực tế này cho thấy, để phát huy tiềm năng của cây hồi, việc mở rộng diện tích đơn thuần chưa đủ. Ngành hàng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, gắn vùng trồng với cơ sở chế biến, doanh nghiệp thu mua và thị trường tiêu thụ, qua đó nâng cao chất lượng, bảo đảm nguồn cung ổn định.
Tại Cao Bằng, các cây gia vị lâu năm như quế, hồi đã từng bước góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế địa phương. Tổng diện tích quế, hồi của tỉnh hiện đạt khoảng 13.652 ha. Định hướng phát triển vùng nguyên liệu quế, hồi và cây gia vị đến năm 2030 đặt mục tiêu trồng mới khoảng 3.000 ha, đồng thời nâng tỷ lệ diện tích áp dụng quy trình sản xuất an toàn, hữu cơ lên từ 70% trở lên và bảo đảm 100% diện tích liên kết tiêu thụ thông qua hợp đồng.
Cùng với quy hoạch vùng trồng, việc hình thành các mô hình liên kết giữa người dân, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất. Một số địa phương đã bước đầu hình thành vùng nguyên liệu tập trung, có doanh nghiệp tham gia liên kết tiêu thụ, tạo nền tảng cho việc phát triển chuỗi cung ứng bền vững.
Theo bà Hoàng Thị Liên, để phát triển vùng nguyên liệu lâu dài, cần chuyển từ phương thức sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang tổ chức sản xuất theo vùng, phát huy vai trò của tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp. Quy hoạch phải dựa trên điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, lựa chọn giống phù hợp, bảo tồn nguồn gen và chú trọng chất lượng thay vì chạy theo số lượng.
Một trong những vấn đề cần sớm tháo gỡ là xác nhận diện tích và sản lượng vùng trồng. Thời gian qua, các doanh nghiệp thu mua gia vị gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ xác nhận nguồn gốc xuất xứ khi xuất khẩu. Nếu không được giải quyết kịp thời, vướng mắc này có thể ảnh hưởng đến khả năng truy xuất nguồn gốc, tính minh bạch và sự ổn định của chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng chú trọng chất lượng, tính bền vững và khả năng truy xuất nguồn gốc, việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu sẽ góp phần nâng cao uy tín của gia vị Việt Nam. Đồng thời, phát triển chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường cũng là hướng đi cần thiết để giảm phụ thuộc vào một số thị trường chủ lực.
Với vị thế là một trong hai quốc gia sản xuất hoa hồi lớn nhất thế giới, Việt Nam có cơ sở để tiếp tục khẳng định vai trò trên thị trường gia vị toàn cầu. Khi những điểm nghẽn về vùng trồng, liên kết sản xuất và truy xuất nguồn gốc được tháo gỡ, hoa hồi cùng các mặt hàng gia vị khác sẽ có thêm cơ hội gia tăng giá trị, cải thiện hiệu quả xuất khẩu và đóng góp bền vững hơn cho kinh tế địa phương.




