Liên kết chuỗi mở lối cho hàng Việt vươn xa

Diễn biến - Dự báo • 19/10/2026 11:36

Muốn nâng cao giá trị xuất khẩu và giữ vững vị thế trên thị trường quốc tế, hàng Việt không chỉ cần chất lượng tốt mà còn phải có nền tảng sản xuất bền vững, chuỗi cung ứng ổn định và chiến lược phát triển thị trường bài bản. Khi người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và hoạt động xúc tiến thương mại cùng được kết nối, cơ hội mở rộng thị trường sẽ được nhân lên, tạo thêm động lực cho mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số.

Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, liên kết chặt chẽ giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đang trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu. Khi các mắt xích trong chuỗi cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm, sản phẩm không chỉ có đầu ra ổn định mà còn có thêm điều kiện xây dựng thương hiệu, mở rộng quy mô và tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao hơn.

Với gạo Séng Cù Than Uyên, Công ty TNHH MTV Dũng Long đã chủ động liên kết với các hộ dân ngay từ khâu sản xuất. Doanh nghiệp cung cấp giống, hỗ trợ phân bón, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thu mua sản phẩm. Cách làm này giúp người dân yên tâm canh tác, đồng thời tạo nguồn nguyên liệu ổn định để doanh nghiệp kiểm soát chất lượng, phát triển thương hiệu và từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ.

0112.trung-bay-gioi-thieu-2_1792383911.jpg
Liên kết chuỗi mở lối cho hàng Việt vươn xa

Tại Lạng Sơn, câu chuyện đưa quả na Hữu Lũng đến với các kênh phân phối rộng lớn hơn cũng cho thấy vai trò của liên kết chuỗi. Ông Lê Đức Hải, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng, cho biết hợp tác xã đang tìm kiếm cơ hội mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Tuy nhiên, để tiếp cận các hệ thống phân phối hiện đại, quả na không chỉ cần bảo đảm chất lượng mà còn phải được hỗ trợ về bao bì, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện hồ sơ sản phẩm.

Với mặt hàng có thời gian bảo quản ngắn như na, việc mở rộng thị trường càng đòi hỏi tổ chức đồng bộ từ thu gom, đóng gói, bảo quản đến vận chuyển và phân phối. Nếu những khâu này chưa được kết nối hiệu quả, sản phẩm dù có chất lượng tốt vẫn khó tiếp cận các thị trường lớn và duy trì sức cạnh tranh lâu dài.

Từ những câu chuyện thực tế ấy có thể thấy, liên kết chuỗi không đơn thuần là giải pháp tiêu thụ nông sản mà còn là cách tổ chức lại hoạt động sản xuất theo hướng chuyên nghiệp. Người dân cần đầu ra ổn định, hợp tác xã cần nâng cao năng lực tổ chức vùng nguyên liệu, doanh nghiệp cần nguồn cung đồng đều, trong khi thị trường đòi hỏi sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và nguồn gốc. Khi những yêu cầu này được kết nối hài hòa, hàng hóa địa phương mới có thể từng bước vươn tới các hệ thống phân phối lớn và thị trường quốc tế.

Tại vùng chè Shan tuyết Tây Côn Lĩnh, sự đồng hành giữa doanh nghiệp và người trồng chè cũng góp phần duy trì chất lượng sản phẩm từ gốc. Không chỉ thu mua nguyên liệu, doanh nghiệp còn hướng dẫn người dân chăm sóc, bảo vệ cây chè và thực hiện quy trình thu hái phù hợp. Nhờ đó, người sản xuất có thêm sự yên tâm về đầu ra, doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn cung, còn chất lượng nguyên liệu được kiểm soát tốt hơn.

Những mô hình này cho thấy, muốn nâng cao giá trị xuất khẩu, cần bắt đầu từ việc củng cố nền tảng sản xuất trong nước. Một sản phẩm có thể tạo dấu ấn ban đầu nhờ chất lượng, nhưng để giữ được thị trường, sản phẩm đó phải được cung ứng ổn định, bảo đảm tính đồng nhất và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của đối tác.

Cùng với sự phát triển của các chuỗi liên kết, hoạt động xúc tiến thương mại cũng cần chuyển từ cách tiếp cận thiên về quảng bá, giới thiệu sản phẩm sang kết nối sâu hơn giữa năng lực sản xuất trong nước với nhu cầu của thị trường quốc tế. Hội chợ, triển lãm hay các chương trình gặp gỡ đối tác sẽ phát huy hiệu quả tốt hơn khi phía sau mỗi doanh nghiệp là vùng nguyên liệu đủ lớn, quy trình sản xuất đạt chuẩn và khả năng duy trì chất lượng, tiến độ giao hàng.

Ngành cà phê là một ví dụ đáng chú ý. Trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,33 triệu tấn cà phê, đạt kim ngạch 6,03 tỷ USD. Bên cạnh việc duy trì sản lượng xuất khẩu, ngành hàng đang đứng trước yêu cầu gia tăng giá trị thông qua chế biến sâu, phát triển thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các hoạt động kết nối thương mại tại Chile, Đức và những thị trường khác vì thế không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm người mua. Đây còn là cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận nhà rang xay, hệ thống phân phối, tìm hiểu tiêu chuẩn kỹ thuật, thị hiếu tiêu dùng và xu hướng thị trường, từ đó điều chỉnh sản phẩm theo hướng phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.

Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến chất lượng, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và tính ổn định của chuỗi cung ứng, năng lực cạnh tranh không còn được quyết định bởi một sản phẩm tốt ở thời điểm hiện tại. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp có thể duy trì chất lượng, bảo đảm nguồn cung và thực hiện các cam kết với đối tác trong dài hạn hay không.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), cho biết định hướng xúc tiến thương mại giai đoạn 2026-2030 là lấy doanh nghiệp và thị trường làm trung tâm, chuyển mạnh từ chú trọng số lượng hoạt động sang hiệu quả thực chất. Theo đó, hoạt động xúc tiến sẽ tập trung vào các ngành hàng có lợi thế, thị trường giàu tiềm năng, đồng thời tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác quốc tế và khai thác hiệu quả hơn các hiệp định thương mại tự do (FTA).

Định hướng này đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽ hơn giữa xúc tiến thương mại với năng lực sản xuất trong nước. Mở được thị trường mới đã khó, duy trì thị trường và gia tăng đơn hàng còn đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn. Doanh nghiệp cần hiểu rõ đặc điểm của từng thị trường, lựa chọn sản phẩm phù hợp, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và xây dựng phương án cung ứng lâu dài. Vì vậy, xúc tiến thương mại cần song hành với phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng, đầu tư chế biến sâu và xây dựng thương hiệu.

Theo ông Vũ Bá Phú, Bộ Công Thương đang thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái xúc tiến thương mại quốc gia, kết nối cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và đối tác quốc tế. Cùng với đó, việc phát triển nền tảng số và Cổng Xúc tiến thương mại số quốc gia được kỳ vọng giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, tìm kiếm đối tác và thuận lợi hơn trong quá trình kết nối giao dịch.

Một hướng đi khác là Chương trình Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030. Thay vì chỉ tập trung hỗ trợ doanh nghiệp đưa hàng hóa ra nước ngoài, chương trình hướng tới nâng cao năng lực quốc tế hóa, tư vấn xây dựng kế hoạch kinh doanh, hỗ trợ tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, mở rộng hiện diện tại nước ngoài và khai thác thương mại điện tử xuyên biên giới.

Cùng với việc củng cố những thị trường xuất khẩu truyền thống như Hoa Kỳ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Nam Á, việc mở rộng kết nối sang Trung Đông, Ấn Độ, Mỹ Latinh và châu Phi cũng mở ra những không gian tăng trưởng mới. Đa dạng hóa thị trường không chỉ giúp hàng Việt tìm kiếm thêm khách hàng mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trước những biến động về nhu cầu, chính sách và điều kiện thương mại tại từng khu vực.

Dù chính sách hỗ trợ và hoạt động xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng, năng lực nội tại vẫn là yếu tố quyết định khả năng đi đường dài của doanh nghiệp. Thị trường có thể mở ra cơ hội, nhưng để chuyển cơ hội thành đơn hàng và doanh thu bền vững, doanh nghiệp phải chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm, minh bạch nguồn gốc, đầu tư bao bì, phát triển thương hiệu và tăng tỷ trọng chế biến sâu.

Ở khâu sản xuất, người dân và hợp tác xã cần từng bước tổ chức vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, tuân thủ quy trình và phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp. Sự liên kết này không chỉ giúp kiểm soát chất lượng đầu vào mà còn tạo điều kiện ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất và giảm những rủi ro phát sinh trong quá trình cung ứng.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc tìm kiếm khách hàng mà còn là khả năng xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài. Điều đó đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ từ nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm đến quản trị chuỗi cung ứng, logistics và dịch vụ sau bán hàng. Khi các khâu được tổ chức bài bản, giá trị của hàng hóa không chỉ nằm ở sản lượng xuất khẩu mà còn được nâng lên thông qua thương hiệu, chất lượng và vị trí trong chuỗi giá trị.

Theo ông Vũ Bá Phú, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số, hoạt động xúc tiến thương mại cần tạo ra sự kết nối thực chất giữa doanh nghiệp Việt Nam với thị trường và đối tác quốc tế. Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tập trung mở rộng, đa dạng hóa thị trường, nâng cao hiệu quả kết nối và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.

Từ nền tảng sản xuất đến khâu phân phối, từ vùng nguyên liệu đến các hoạt động xúc tiến thương mại, mỗi mắt xích đều góp phần tạo nên sức cạnh tranh của hàng Việt. Khi liên kết chuỗi được củng cố, doanh nghiệp nâng cao nội lực và các nguồn lực hỗ trợ được kết nối hiệu quả, hàng hóa Việt Nam sẽ có thêm cơ hội vượt khỏi lợi thế về sản lượng, tiến tới chinh phục những phân khúc có giá trị cao hơn, mở rộng thị phần và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xuất khẩu trong những năm tới.

Diệp Chi
Tin đáng đọc