Thị trường chứng khoán trước bài toán vốn cho tăng trưởng hai con số

Tài chính - Kinh doanh • 19/10/2026 11:36

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần huy động khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, thị trường chứng khoán được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần khơi thông nguồn lực tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Nhu cầu vốn ngày càng lớn đang đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực huy động và phân bổ nguồn lực của nền kinh tế. Với thị trường chứng khoán, đây vừa là cơ hội mở rộng vai trò trong hệ thống tài chính, vừa là thách thức về chất lượng hàng hóa, khả năng thu hút nhà đầu tư và hiệu quả đưa dòng vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Một nền kinh tế hướng tới tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp cần nguồn lực đầu tư đủ lớn và được phân bổ hiệu quả. Theo TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, Kinh tế trưởng BIDV, tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 48% các kênh dẫn vốn được tính toán, trong khi thị trường chứng khoán chiếm khoảng 6% và trái phiếu doanh nghiệp khoảng 9,4%. Cơ cấu này cho thấy tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển mạnh hơn các kênh huy động vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.

chung_khoan_la_gi_066beb4771_1792384139.webp
Thị trường chứng khoán trước bài toán vốn cho tăng trưởng hai con số

Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 được ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước dự kiến đạt khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 20%; phần còn lại cần được huy động từ khu vực tư nhân và các nguồn vốn quốc tế.

Theo ông Nguyễn Hoàng Dương, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, thị trường vốn và thị trường chứng khoán được kỳ vọng đóng góp khoảng 10 triệu tỷ đồng trong giai đoạn này, bình quân 2 triệu tỷ đồng mỗi năm. Riêng lượng vốn huy động qua thị trường chứng khoán dự kiến đạt khoảng 5,4 triệu tỷ đồng trong 5 năm, cao hơn 2 lần so với giai đoạn 2020-2025.

Những con số trên cho thấy thị trường chứng khoán đang được kỳ vọng đảm nhận vai trò lớn hơn trong việc bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng. Khi doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính phù hợp, áp lực phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng có thể từng bước được giảm bớt, đồng thời tạo điều kiện để dòng vốn trung và dài hạn đến gần hơn với nhu cầu đầu tư thực tế.

Thực tế, quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể. Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương cho biết, đến cuối tháng 9/2026, vốn hóa trên hai sở giao dịch đạt khoảng 404 tỷ USD, tương đương 81,7% GDP. Giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân từ đầu năm đạt khoảng 1 tỷ USD mỗi ngày, trong khi số lượng tài khoản chứng khoán vào khoảng 13,9 triệu.

Quy mô vốn hóa, thanh khoản và số lượng nhà đầu tư ngày càng mở rộng là những yếu tố tạo nền tảng cho thị trường phát triển. Tuy nhiên, để thực sự trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả, thị trường không chỉ cần duy trì giao dịch sôi động mà còn phải nâng cao khả năng huy động vốn mới, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực phục vụ đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bởi vậy, bài toán đặt ra không đơn thuần là gia tăng quy mô thị trường, mà còn là nâng chất lượng hàng hóa, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và bảo đảm nguồn vốn được phân bổ đến những doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi.

Để đáp ứng yêu cầu này, Bộ Tài chính đang tập trung hoàn thiện Luật Chứng khoán, triển khai các cơ chế thí điểm, cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính; đồng thời phát triển nguồn cung vốn, đa dạng hóa sản phẩm và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp niêm yết.

Các định hướng đáng chú ý gồm khuyến khích doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp có năng lực quản trị tốt và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia niêm yết; phát triển trái phiếu xanh, sản phẩm phái sinh; mở rộng sự tham gia của nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài. Cùng với đó, việc hoàn thiện cơ chế đối tác bù trừ trung tâm và hiện đại hóa hệ thống giám sát được kỳ vọng góp phần nâng cao tính minh bạch, an toàn và hiệu quả vận hành của thị trường.

Cùng với yêu cầu huy động vốn cho nền kinh tế, triển vọng tăng trưởng hai con số cũng mở ra cơ hội cho doanh nghiệp gia tăng doanh thu, lợi nhuận và mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, tăng trưởng GDP và diễn biến giá cổ phiếu không phải lúc nào cũng song hành, bởi thị trường chứng khoán còn chịu tác động từ lãi suất, tỷ giá, dòng vốn quốc tế và kỳ vọng của nhà đầu tư.

Theo bà Nguyễn Thị Bình Minh, Giám đốc Trung tâm Kinh doanh, Công ty cổ phần Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam, tăng trưởng GDP và giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Thị trường đã chuyển khỏi môi trường tiền rẻ, trong khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ ở mức cao tạo sức ép lên đồng USD, dòng vốn, tỷ giá và dư địa điều hành lãi suất trong nước.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm từng lên 5,34%, mức cao nhất trong 24 năm và tăng 80 điểm cơ bản trong quý III. Dù số liệu việc làm yếu hơn làm giảm khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tăng lãi suất trong tháng 10, lợi suất kỳ hạn 10 năm vẫn quanh mức 5,28%.

Mặt bằng lợi suất cao tại Mỹ có thể làm thay đổi tương quan lợi ích giữa các kênh đầu tư, ảnh hưởng đến quyết định phân bổ vốn của nhà đầu tư quốc tế. Những biến động này cũng tác động đến chi phí huy động vốn, tỷ giá và định giá tài sản tại các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, tăng trưởng kinh tế vẫn là động lực quan trọng đối với triển vọng thị trường chứng khoán, nhưng khả năng hưởng lợi sẽ có sự phân hóa giữa các ngành và từng doanh nghiệp. Những doanh nghiệp kiểm soát tốt chi phí, có nền tảng tài chính lành mạnh, sử dụng vốn hiệu quả và duy trì được lợi thế cạnh tranh sẽ có nhiều cơ hội chuyển đà tăng trưởng của nền kinh tế thành kết quả kinh doanh thực chất.

Một yếu tố được nhà đầu tư quan tâm là mặt bằng định giá cổ phiếu. P/E, tức hệ số giá trên lợi nhuận, của VN-Index hiện vào khoảng 12,1 lần, thấp hơn khoảng 12% so với mức bình quân 3 năm là 13,8 lần. Đây có thể là cơ sở để đánh giá dư địa định giá của thị trường, song không đồng nghĩa mọi cổ phiếu đều đang ở mức hấp dẫn.

Thực tế, một doanh nghiệp có P/E ở mức 8 lần có thể được xem là có định giá hợp lý nếu lợi nhuận năm sau tăng 25%. Ngược lại, cùng mức P/E đó vẫn có thể trở thành “bẫy giá trị” nếu lợi nhuận năm sau giảm 30%. Vì vậy, việc đánh giá cơ hội đầu tư cần đặt trong mối tương quan giữa giá cổ phiếu, triển vọng lợi nhuận và chất lượng hoạt động kinh doanh.

Theo bộ tiêu chí định lượng của Mirae Asset, những doanh nghiệp được sàng lọc tích cực cần có doanh thu quý gần nhất tăng trên 10%, lợi nhuận quý gần nhất tăng trên 20%, lợi nhuận 4 quý gần nhất tăng trên 10%; ROE, tức tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, trong 12 tháng trên 12% và ROE bình quân 3 năm trên 9%. Bên cạnh đó, biên lợi nhuận ròng cần cải thiện so với cùng kỳ, trong khi tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu dưới 80%.

Các tiêu chí này nhấn mạnh rằng triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp cần được kiểm chứng bằng kết quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn. Khi doanh thu, lợi nhuận và dòng tiền được cải thiện trên nền tảng tài chính lành mạnh, doanh nghiệp không chỉ có thêm khả năng mở rộng hoạt động mà còn nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Ở góc độ thị trường, chất lượng của doanh nghiệp niêm yết cũng có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng huy động vốn. Một thị trường có nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, minh bạch thông tin và duy trì triển vọng phát triển dài hạn sẽ tạo thêm cơ sở để nhà đầu tư đưa ra quyết định, đồng thời giúp doanh nghiệp huy động nguồn lực với chi phí phù hợp hơn.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi sự phối hợp của nhiều nguồn lực, từ ngân sách nhà nước, tín dụng ngân hàng đến thị trường vốn và dòng vốn quốc tế. Trong đó, thị trường chứng khoán có lợi thế ở khả năng huy động nguồn vốn từ nhiều đối tượng nhà đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực dài hạn và chia sẻ cơ hội đầu tư với công chúng.

Tuy nhiên, để phát huy vai trò này, thị trường cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết và củng cố niềm tin của nhà đầu tư. Việc mở rộng quy mô cần đi cùng với nâng cao tính minh bạch, kỷ luật thị trường và chất lượng quản trị, qua đó hạn chế rủi ro và tăng khả năng phân bổ vốn đúng địa chỉ.

Đối với doanh nghiệp, cơ hội huy động vốn cũng gắn liền với yêu cầu nâng cao năng lực quản trị, xây dựng phương án sử dụng vốn rõ ràng và minh bạch hóa hoạt động. Nguồn vốn chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được đưa vào những dự án có khả năng nâng cao năng suất, mở rộng năng lực sản xuất, cải thiện công nghệ và tạo ra lợi nhuận bền vững.

Về dài hạn, hiệu quả của thị trường chứng khoán không chỉ được đo bằng mức tăng của chỉ số, quy mô vốn hóa hay giá trị giao dịch mỗi ngày, mà còn ở khả năng đưa nguồn lực tài chính đến với doanh nghiệp, hỗ trợ các kế hoạch đầu tư và tạo thêm động lực cho nền kinh tế.

Khi các chính sách phát triển thị trường được triển khai đồng bộ, doanh nghiệp nâng cao nội lực và nhà đầu tư có thêm niềm tin vào chất lượng hàng hóa, thị trường chứng khoán sẽ có điều kiện đảm nhận tốt hơn vai trò dẫn vốn. Đây cũng là nền tảng quan trọng để huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời hướng dòng tiền vào những hoạt động tạo ra giá trị thực chất cho nền kinh tế.

Diệp Oanh
Tin đáng đọc