Xuất khẩu rau quả hướng tới mốc 10 tỷ USD áp lực giữ chuẩn ngày càng lớn
Xuất khẩu rau quả Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực, với kim ngạch 9 tháng đầu năm 2026 đạt 7,28 tỷ USD. Tuy nhiên, trước những quy định mới từ Trung Quốc và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực tuân thủ để không chỉ mở rộng mà còn giữ vững thị trường.
Trong 10 tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu khả quan. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành ước đạt 62,891 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành 84,7% kế hoạch năm. Đáng chú ý, toàn ngành đạt mức xuất siêu khoảng 18,6 tỷ USD.
Trong bức tranh chung đó, rau quả tiếp tục là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng nổi bật. Theo số liệu của Cục Hải quan do Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) công bố, xuất khẩu rau quả đã có 3 tháng liên tiếp đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 9 tháng đầu năm lên 7,28 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam. Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 4,72 tỷ USD, tăng 22,4%, chiếm 64,8% tổng kim ngạch toàn ngành. Kết quả này mở ra triển vọng đưa xuất khẩu rau quả cả năm tiến gần, thậm chí chạm mốc 10 tỷ USD.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào một thị trường cũng khiến ngành hàng đối mặt với không ít thách thức. Khi các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ngày càng được siết chặt, doanh nghiệp không thể chỉ tập trung vào sản lượng mà cần chủ động hoàn thiện quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và đáp ứng đầy đủ quy định của thị trường nhập khẩu.
Cuối tháng 10/2026, Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về Vệ sinh Dịch tễ và Kiểm dịch Động thực vật Việt Nam (Văn phòng SPS Việt Nam), thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đã phát đi văn bản thông tin về Thông báo số 150 năm 2026 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC). Văn bản này sửa đổi, ban hành quy định về quản lý đăng ký đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm.
Quy định mới áp dụng trực tiếp đối với doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu thực phẩm vào Trung Quốc, đại lý của các doanh nghiệp này và doanh nghiệp nhập khẩu thực phẩm tại Trung Quốc. Hồ sơ đăng ký được thực hiện trực tuyến thông qua Hệ thống một cửa thương mại quốc tế hoặc Dịch vụ hành chính công hải quan.
Theo quy định, nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan hải quan Trung Quốc sẽ tiếp nhận, phê duyệt trong vòng 3 ngày làm việc và cấp mã số đăng ký có hiệu lực dài hạn. Trường hợp thông tin đăng ký có thay đổi, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục cập nhật trong vòng 60 ngày.
Đánh giá về những điều chỉnh này, ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, cho biết mẫu biểu đăng ký dành cho doanh nghiệp đã được tinh gọn đáng kể, số lượng mục thông tin giảm từ 20 xuống còn 10. Đồng thời, thời gian giải quyết hồ sơ cũng được rút ngắn còn 3 ngày làm việc nếu đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
Dù thủ tục đăng ký được đơn giản hóa, yêu cầu về quản lý chất lượng và minh bạch thông tin vẫn được đặt lên hàng đầu. Ông Ngô Xuân Nam lưu ý, quy định mới của Tổng cục Hải quan Trung Quốc nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm nhập khẩu và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc. Do đó, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng cần chủ động nghiên cứu, áp dụng và đáp ứng đầy đủ những quy định mới của thị trường.
Đáng chú ý, hải quan Trung Quốc vẫn duy trì quyền kiểm tra thực địa, tra cứu thông tin và kiểm tra chéo tại cửa khẩu thông quan. Nếu phát hiện dữ liệu khai báo không trung thực hoặc không phù hợp với thực tế, doanh nghiệp có thể bị yêu cầu sửa đổi bắt buộc, thậm chí bị hủy mã số đăng ký.
Bên cạnh những yêu cầu từ thị trường nhập khẩu, ngành nông nghiệp cũng cần giải quyết các điểm nghẽn nội tại để bảo đảm tăng trưởng xuất khẩu đi đôi với hiệu quả sản xuất. Thứ trưởng Võ Văn Hưng thẳng thắn nhìn nhận, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng tích cực nhưng lợi nhuận chưa được phân bổ đồng đều đến người nông dân tại các vùng nguyên liệu.
Nông dân và các hợp tác xã quy mô nhỏ vẫn gặp khó khăn về vốn lưu động, hệ thống kho chứa, kho sấy đạt chuẩn. Điều này khiến nhiều hộ sản xuất phải bán sản phẩm với giá thấp khi bước vào chính vụ. Trong khi đó, công suất vận hành thực tế của các cơ sở chế biến sâu mới đạt khoảng 60-80% công suất thiết kế do thiếu hạ tầng kho lạnh và các trung tâm logistics dùng chung.
Trong những tháng cuối năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng của ba nhóm hàng chủ lực gồm gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả; đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn cho những ngành hàng chưa đạt mục tiêu.
Đối với thủy sản, trọng tâm là các mặt hàng tôm, cá tra, kiểm soát chất lượng và an toàn toàn chuỗi, xử lý các vấn đề liên quan đến khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cũng như các biện pháp phòng vệ thương mại. Với rau quả, đặc biệt là sầu riêng, yêu cầu đặt ra là quản lý chặt chẽ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và chất lượng sản phẩm.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh, ngành nông nghiệp cần chuyển từ tư duy “mở cửa thị trường” sang mục tiêu “mở được, vào được và giữ được thị trường”. Cùng với việc tháo gỡ rào cản thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, ngành sẽ tập trung xử lý những điểm nghẽn về tín dụng, xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông và chủ động chuẩn bị các kịch bản cho năm 2027.
Với rau quả, tăng trưởng kim ngạch là tín hiệu tích cực, nhưng khả năng duy trì vị thế tại các thị trường lớn mới là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững. Việc nâng cao chất lượng, minh bạch nguồn gốc và tổ chức lại chuỗi cung ứng sẽ là nền tảng để nông sản Việt Nam tận dụng cơ hội, gia tăng giá trị và giữ vững niềm tin của đối tác quốc tế.







