Cần Thơ số hóa vùng trồng nâng chất lượng và giá trị hạt gạo
Từ giảm chi phí đầu vào, chuẩn hóa mã số vùng trồng đến ứng dụng nền tảng số trong quản lý sản xuất, Cần Thơ đang từng bước xây dựng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và thúc đẩy liên kết tiêu thụ gạo theo hướng bền vững.
Trước áp lực chi phí vật tư nông nghiệp biến động, tình trạng sử dụng lãng phí phân bón và giống gieo sạ đang khiến giá thành sản xuất lúa tăng cao, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng đất và làm gia tăng phát thải khí nhà kính. Vì vậy, việc áp dụng quy trình canh tác tiên tiến, kết hợp công nghệ số đang trở thành giải pháp quan trọng để nâng hiệu quả sản xuất và cải thiện thu nhập cho nông dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Một trong những giải pháp đáng chú ý là ứng dụng “Bón phân đúng” (RCM) do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phát triển. Công cụ này hỗ trợ nông dân quản lý dinh dưỡng cây trồng dựa trên khuyến cáo khoa học phù hợp với điều kiện từng thửa ruộng và mùa vụ.
Theo ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, RCM không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là bước tiến trong chuyển đổi số nông nghiệp, giúp người sản xuất chủ động hơn trong quản lý dinh dưỡng cây trồng. Khi kết hợp với cơ giới hóa sạ hàng, vùi phân, quản lý nước theo phương pháp tưới ngập khô xen kẽ và xử lý rơm rạ, quy trình này có thể giúp giảm tới 30% lượng phân đạm, tiết kiệm giống gieo sạ nhưng vẫn duy trì hoặc nâng cao năng suất.
Tại Cần Thơ, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp được triển khai trên diện tích quy hoạch khoảng 170.000 ha tại 64 xã, phường, với sự tham gia của 171 hợp tác xã và tổ hợp tác. Đến nay, thành phố đã xây dựng hơn 8.000 ha mô hình vùng nguyên liệu chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ cho biết, các mô hình thí điểm bước đầu mang lại hiệu quả rõ rệt. Lượng giống gieo sạ giảm 40 - 50%, phân đạm giảm trên 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2 - 3 lần và lượng nước tưới tiết kiệm 30 - 40%. Đáng chú ý, lợi nhuận của nông dân tăng thêm từ 1,3 - 6,5 triệu đồng/ha, trong khi lượng phát thải khí nhà kính giảm từ 6 - 12 tấn CO₂/ha so với phương thức canh tác truyền thống.
Hiệu quả này được thể hiện qua mô hình sản xuất của ông Nguyễn Văn Dũng, thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Kiến Thành, xã Vị Thanh 1. Với giống lúa ST25, gia đình ông áp dụng phương pháp sạ thưa, sử dụng 55 kg giống/ha kết hợp bón phân hợp lý. Nhờ mật độ gieo sạ phù hợp, cây lúa phát triển khỏe, hạn chế sâu bệnh và đạt năng suất 1,05 tấn/công, cao hơn khoảng 50 kg/công so với ruộng sạ dày. Việc tiết giảm chi phí đầu vào trong khi vẫn bảo đảm sản lượng giúp lợi nhuận của gia đình tăng khoảng 20 - 30%.
Cùng với đổi mới kỹ thuật canh tác, Cần Thơ đang đẩy mạnh đào tạo, nâng cao năng lực cho nông dân và hợp tác xã, đồng thời cải cách thủ tục cấp mã số vùng trồng. Đây được xem là điều kiện quan trọng để hình thành vùng nguyên liệu tập trung, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn và truy xuất nguồn gốc của thị trường.
Từ tháng 9 đến tháng 11/2026, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố tổ chức 62 lớp tập huấn cho 1.860 nông dân và thành viên hợp tác xã. Nội dung tập trung vào quy trình canh tác giảm phát thải, kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao và các quy định pháp lý liên quan đến đăng ký, quản lý mã số vùng trồng.
Theo bà Trần Thị Kim Thúy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ, quy định về cấp mã số vùng trồng đã được tinh gọn theo Luật Trồng trọt, Nghị định 38/NĐ-CP và Nghị quyết 36/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Thẩm quyền tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký mã số vùng trồng được phân cấp về UBND cấp xã, thành phần hồ sơ chỉ còn đơn đề nghị theo quy định. Đối với vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa, UBND cấp xã thực hiện thẩm định và phê duyệt trong 3 ngày làm việc. Với vùng trồng xuất khẩu, cấp xã thẩm định trong 10 ngày trước khi chuyển hồ sơ lên cấp thành phố và Bộ Nông nghiệp và Môi trường xử lý theo thẩm quyền.
Việc rút gọn quy trình và phân cấp giải quyết thủ tục được kỳ vọng giúp giảm thời gian, chi phí cho người dân, hợp tác xã, đồng thời tạo điều kiện mở rộng diện tích vùng trồng được cấp mã số. Khi mã số vùng trồng được quản lý thống nhất, hoạt động giám sát chất lượng và kết nối với doanh nghiệp thu mua cũng thuận lợi hơn.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Cần Thơ là ứng dụng công nghệ số vào quản lý vùng trồng thông qua nền tảng ViriCert. Công cụ này được sử dụng để đánh giá mức độ tuân thủ quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, dựa trên các tiêu chí về giám sát sản xuất, minh chứng dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Hiện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố đã triển khai thí điểm nền tảng tại 30 hợp tác xã tham gia đề án.
Thông qua ViriCert, dữ liệu sản xuất được số hóa ngay từ đầu vụ. Nông dân từng bước chuyển từ ghi chép nhật ký giấy sang nhật ký canh tác điện tử; hợp tác xã thực hiện kiểm tra, tổng hợp và lưu trữ dữ liệu tập trung. Trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương có thể quản lý vị trí thửa đất, hậu kiểm và giám sát việc tuân thủ quy trình sản xuất trên môi trường số.
Nguồn dữ liệu này còn phục vụ công tác đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) lượng khí nhà kính giảm phát thải, đồng thời giúp doanh nghiệp nhanh chóng truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây là yếu tố ngày càng quan trọng trong bối cảnh thị trường xuất khẩu đòi hỏi cao hơn về minh bạch thông tin, chất lượng và trách nhiệm môi trường.
Từ góc độ khoa học, PGS.TS Nguyễn Văn Bộ cho rằng việc bón phân chính xác và số hóa vùng trồng cần dựa trên dữ liệu khoa học về chất lượng đất. Ông đề xuất có cơ chế hỗ trợ địa phương sử dụng ngân sách phân tích chất lượng đất lúa định kỳ 5 năm một lần theo Nghị định 112 về đất lúa. Việc nắm rõ nguồn dinh dưỡng trong đất sẽ giúp nông dân áp dụng hiệu quả nguyên tắc “4 đúng”, hạn chế lãng phí vật tư và giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Bên cạnh đó, trước thực trạng thị trường có khoảng 29.000 tên thương phẩm phân bón, việc tăng cường quản lý quảng cáo, kiểm soát chất lượng và xử lý hàng giả, hàng nhái cũng cần được chú trọng nhằm bảo vệ quyền lợi nông dân.
Ở góc độ thị trường, ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam nhấn mạnh, khi hợp tác xã tuân thủ nghiêm quy trình canh tác và có mã số vùng trồng được chuẩn hóa, chất lượng và độ an toàn của hạt gạo sẽ được nâng cao. Đây là cơ sở để doanh nghiệp và hợp tác xã xây dựng hợp đồng liên kết, bao tiêu dài hạn, góp phần ổn định đầu ra và gia tăng giá trị gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo bà Nguyễn Thị Giang, việc ứng dụng các công cụ như ViriCert đánh dấu sự chuyển đổi từ quản lý theo kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu, từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang kinh tế nông nghiệp, từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng và tính minh bạch.
Để mô hình phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn, hợp tác xã, nông dân, doanh nghiệp, viện trường và nền tảng công nghệ. Trong đó, chính quyền thực hiện quản lý, hậu kiểm; cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật; hợp tác xã tổ chức sản xuất; nông dân trực tiếp thực hành; doanh nghiệp liên kết tiêu thụ; viện trường chuyển giao khoa học công nghệ và nền tảng số kết nối dữ liệu.
Việc chuẩn hóa mã số vùng trồng, áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải và số hóa dữ liệu sản xuất không chỉ giúp Cần Thơ nâng cao hiệu quả triển khai đề án mà còn tạo nền tảng hình thành chuỗi giá trị lúa gạo minh bạch, bền vững. Đây là hướng đi quan trọng để nâng sức cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long, hướng tới mục tiêu 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vào năm 2030.




