Doanh nghiệp đồ uống phải chịu trách nhiệm đến cùng về an toàn thực phẩm

Cẩm nang doanh nghiệp • 23/10/2026 15:05

Từ kiểm soát nguyên liệu, bảo đảm chất lượng đến minh bạch nguồn gốc và thu hồi sản phẩm vi phạm, trách nhiệm an toàn thực phẩm của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh rượu và nước giải khát cần được thực hiện xuyên suốt chuỗi cung ứng. Việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp hạn chế rủi ro xử phạt mà còn là nền tảng bảo vệ sức khỏe, quyền lợi người tiêu dùng và uy tín doanh nghiệp.

Rượu và nước giải khát là những mặt hàng được tiêu thụ phổ biến, có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng. Tuy nhiên, tình trạng sản phẩm không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm, đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ từ khâu sản xuất đến lưu thông trên thị trường.

Trong bối cảnh đó, trách nhiệm của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra chất lượng thành phẩm trước khi xuất xưởng. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh còn phải kiểm soát nguyên liệu, duy trì điều kiện vệ sinh, cung cấp thông tin trung thực, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc và chủ động thu hồi sản phẩm không an toàn khi phát hiện vi phạm.

images_1792651096.jfif
Doanh nghiệp đồ uống phải chịu trách nhiệm đến cùng về an toàn thực phẩm

Trao đổi về vấn đề này, Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật, cho biết pháp luật quy định trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm đối với doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh. Khoản 2 Điều 7 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất thực phẩm bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất, thiết lập quy trình tự kiểm tra, lưu giữ hồ sơ truy xuất nguồn gốc và kịp thời ngừng sản xuất, thu hồi, xử lý khi phát hiện sản phẩm không an toàn. Đối với hoạt động kinh doanh, khoản 2 Điều 8 của luật này quy định trách nhiệm kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ, lưu giữ hồ sơ và ngừng kinh doanh khi phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Theo luật sư Diệp Năng Bình, doanh nghiệp cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng, nguồn gốc nguyên liệu; bảo đảm điều kiện vệ sinh, trang thiết bị và quy trình sản xuất; đồng thời đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng và cung cấp thông tin chính xác cho người tiêu dùng. Nếu sản phẩm không an toàn gây thiệt hại, tổ chức, cá nhân có liên quan có thể phải bồi thường theo quy định pháp luật, căn cứ vào vai trò, hành vi và trách nhiệm của từng chủ thể.

Đối với rượu và nước giải khát, việc thực hiện nghiêm túc những nghĩa vụ này càng có ý nghĩa quan trọng bởi sai phạm không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Thực tế, khi sản phẩm vi phạm gây ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm pháp lý cần được xác định cụ thể đối với từng khâu trong chuỗi cung ứng. Cơ sở sản xuất phải chịu trách nhiệm về nguyên liệu, quy trình và chất lượng sản phẩm thuộc phạm vi trách nhiệm của mình; đơn vị phân phối, kinh doanh có nghĩa vụ kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ, lưu giữ hồ sơ và ngừng kinh doanh khi phát hiện sản phẩm không bảo đảm an toàn.

Về xử phạt hành chính, theo luật sư Diệp Năng Bình, Điều 4 Nghị định 115/2018/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 124/2021/NĐ-CP, quy định các mức xử phạt đối với hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm, trong đó có hành vi sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ để sản xuất thực phẩm hoặc sử dụng chất, hóa chất không thuộc loại được phép dùng làm thực phẩm. Mức phạt cụ thể phụ thuộc vào tính chất, mức độ và giá trị sản phẩm vi phạm.

Đối với hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung, quy định các mức xử phạt tương ứng với từng trường hợp. Mức phạt đối với tổ chức được xác định theo quy định áp dụng cho chủ thể vi phạm.

Trường hợp rượu, nước giải khát là hàng giả, hành vi sản xuất hoặc buôn bán có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 193 Bộ luật Hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm. Nếu hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm đáp ứng đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm còn có thể bị xử lý theo Điều 317 Bộ luật Hình sự.

Luật sư Diệp Năng Bình lưu ý, cần phân biệt rõ hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc và thực phẩm không bảo đảm an toàn, bởi mỗi nhóm hành vi có căn cứ xử lý riêng. Việc xác định trách nhiệm phải dựa trên hồ sơ truy xuất nguồn gốc, kết quả kiểm nghiệm, chứng cứ về hành vi vi phạm và mối quan hệ giữa hành vi với thiệt hại xảy ra.

Bên cạnh việc xử phạt, doanh nghiệp còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định, bao gồm ngừng lưu thông, thu hồi sản phẩm không an toàn, thông báo nguy cơ cho người tiêu dùng và bồi thường thiệt hại khi có đủ căn cứ pháp lý. Xử lý vi phạm vì vậy không thể chỉ dừng ở chế tài hành chính hoặc hình sự mà cần gắn với việc bảo vệ quyền lợi của những người bị ảnh hưởng.

Một trong những yêu cầu quan trọng để củng cố niềm tin thị trường là minh bạch thông tin và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc. Theo luật sư Diệp Năng Bình, doanh nghiệp cần cung cấp thông tin trung thực, kiểm tra và lưu giữ hồ sơ liên quan đến thực phẩm, đồng thời thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về công bố sản phẩm, ghi nhãn và cảnh báo theo quy định hiện hành.

Nhãn hàng hóa phải thể hiện các nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt theo quy định, trong đó có tên hàng hóa, thông tin về tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm, xuất xứ và những nội dung khác tùy theo tính chất sản phẩm. Đối với thực phẩm, thông tin về định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thành phần, cảnh báo, hướng dẫn sử dụng và bảo quản cũng cần được thể hiện theo yêu cầu áp dụng đối với từng loại hàng hóa.

Khi phát hiện sản phẩm không bảo đảm an toàn, doanh nghiệp phải chủ động truy xuất nguồn gốc, xác định lô hàng liên quan, rà soát lượng sản phẩm còn tồn kho và đang lưu thông, đồng thời phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình thu hồi, xử lý. Việc công bố thông tin, thực hiện thu hồi và thanh toán các chi phí liên quan phải tuân thủ quy định pháp luật tương ứng.

Theo luật sư Diệp Năng Bình, để bảo đảm an toàn thực phẩm một cách bền vững, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tuân thủ mang tính đối phó sang chủ động nhận diện, kiểm soát rủi ro trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh. Nguyên liệu, quy trình chế biến, điều kiện bảo quản và chất lượng thành phẩm phải được kiểm soát thường xuyên; hồ sơ cần được lưu giữ đầy đủ để phục vụ truy xuất khi có sự cố.

Trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp cũng cần được thực hiện thực chất, thay vì chỉ giao nhiệm vụ cho bộ phận kiểm soát chất lượng hoặc coi giấy phép, hồ sơ công bố là điều kiện đủ để bảo đảm an toàn cho sản phẩm.

Về phía cơ quan quản lý, cần tăng cường kiểm tra theo mức độ rủi ro, tập trung vào cơ sở có dấu hiệu vi phạm, nhóm sản phẩm tiềm ẩn nguy cơ cao và hoạt động kinh doanh trên môi trường trực tuyến. Sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chức năng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm.

Cùng với đó, việc công khai thông tin vi phạm theo quy định và giám sát quá trình khắc phục hậu quả có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ người tiêu dùng. Người dân cần được tiếp cận thông tin rõ ràng về nguồn gốc, thành phần, hạn sử dụng và cảnh báo an toàn, đồng thời có kênh thuận tiện để phản ánh, khiếu nại hoặc yêu cầu bồi thường khi quyền lợi bị xâm phạm.

Bảo đảm an toàn thực phẩm trong lĩnh vực đồ uống là trách nhiệm xuyên suốt của doanh nghiệp, từ lựa chọn nguyên liệu đến khi sản phẩm được tiêu thụ. Khi chủ động kiểm soát chất lượng, minh bạch thông tin và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thu hồi, bồi thường khi có vi phạm, doanh nghiệp không chỉ hạn chế rủi ro pháp lý mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phát triển thương hiệu bền vững.

Uyên Diệp
Tin đáng đọc