Thu ngân sách tăng tốc giải ngân đầu tư công cần bứt phá
Thu ngân sách Nhà nước đã đạt gần 75% dự toán năm 2026, trong khi giải ngân vốn đầu tư công mới đạt 38,1% kế hoạch được Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao. Kho bạc Nhà nước đang theo dõi sát tiến độ, trong khi các chuyên gia đề xuất chuyển mạnh từ kiểm tra chung sang giám sát từng dự án, xử lý trực tiếp các điểm nghẽn và điều chuyển vốn sớm cho những nơi có khả năng hấp thụ tốt.
Theo Kho bạc Nhà nước (KBNN), tính đến hết ngày 5/8, lũy kế thu ngân sách Nhà nước trong cân đối đạt 1.896.176 tỷ đồng, tương đương 74,96% dự toán năm 2026. Trong đó, thu nội địa trong cân đối, không tính dầu thô, đạt 1.642.265 tỷ đồng, bằng 74,65% dự toán. Thu từ dầu thô đạt 37.904 tỷ đồng, tương đương 88,15% dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 214.015 tỷ đồng, bằng 76,98% dự toán sau khi trừ dự toán hoàn thuế giá trị gia tăng.
Kết quả thu ngân sách cho thấy nguồn lực tài chính đang được huy động tương đối tích cực. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công vẫn cần được đẩy nhanh để nguồn lực ngân sách thực sự chuyển hóa thành khối lượng đầu tư, tăng trưởng và năng lực sản xuất mới.
Đối với kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, KBNN cho biết tính đến ngày 31/7, lũy kế thanh toán qua hệ thống đạt 350.295,4 tỷ đồng, bằng 38,1% kế hoạch năm 2026 được Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao qua KBNN, với tổng kế hoạch 920.294,8 tỷ đồng. Nếu tính cả kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao và phần vốn UBND các tỉnh giao thêm thanh toán qua KBNN, tỷ lệ giải ngân đạt 35,7%, trên tổng kế hoạch 981.531,2 tỷ đồng.
Theo Bộ Tài chính, hiện vẫn còn 24 bộ, cơ quan Trung ương và 11 địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung của cả nước. Đáng chú ý, một số bộ, cơ quan Trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 10%, thậm chí chưa giải ngân. Danh sách này gồm Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân tối cao, Đài Truyền hình Việt Nam...
Sự chênh lệch về tiến độ giữa các đơn vị cho thấy khả năng hấp thụ vốn và tổ chức thực hiện vẫn là một trong những yếu tố quyết định tốc độ giải ngân trong những tháng còn lại của năm. Trong bối cảnh yêu cầu đẩy nhanh giải ngân ngày càng cấp thiết, các chuyên gia cho rằng phương thức điều hành cần chuyển từ theo dõi tỷ lệ chung sang quản lý cụ thể theo từng dự án và từng nhóm nguyên nhân gây chậm.
Theo PGS.TS Phùng Thế Đông, để thúc đẩy giải ngân, cần điều hành theo từng dự án và “đường găng”, đồng thời xây dựng danh mục những dự án chiếm khoảng 70-80% số vốn còn phải giải ngân để đưa vào diện giám sát đặc biệt. Với mỗi dự án, cần xác định rõ đường găng, điểm nghẽn, cơ quan có thẩm quyền xử lý, người chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành. Cách làm này giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào những dự án có tác động lớn thay vì dàn trải hoạt động kiểm tra.
Một trong những giải pháp được đề xuất là xây dựng bảng điều hành số, cập nhật hằng tuần, tích hợp tối thiểu bốn nhóm dữ liệu gồm khối lượng thi công, giá trị nghiệm thu, số vốn đã thanh toán và những vướng mắc cần xử lý. Khi dữ liệu được cập nhật thường xuyên, cơ quan điều hành có thể nhận diện sớm dự án chậm tiến độ, xác định nguyên nhân và đưa ra quyết định điều chỉnh kịp thời.
Theo PGS.TS Phùng Thế Đông, các tổ công tác của Chính phủ và địa phương cần chuyển từ kiểm tra chung sang trực tiếp giải quyết từng vụ việc tại hiện trường. Việc điều chuyển vốn cũng cần được thực hiện sớm, căn cứ vào khả năng hấp thụ vốn của từng dự án, thay vì chờ đến cuối năm mới xử lý.
Theo các chuyên gia, mỗi bộ, ngành và địa phương cần chuẩn bị danh mục dự án dự phòng đã hoàn tất thủ tục, sẵn sàng tiếp nhận vốn khi có nguồn điều chuyển. Đồng thời, không nên tiếp tục ưu tiên vốn mới cho những dự án nhiều năm liên tiếp có tỷ lệ giải ngân thấp do năng lực tổ chức thực hiện hạn chế.
Việc đánh giá hiệu quả giải ngân cũng cần được gắn với công tác phân bổ vốn trong những năm tiếp theo, đánh giá trách nhiệm người đứng đầu và lựa chọn chủ đầu tư. Trong đó, việc chấm điểm giải ngân theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6 cần được liên thông với quá trình phân bổ vốn, tạo động lực để các chủ đầu tư và địa phương nâng cao trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Đối với những dự án trọng điểm, các chuyên gia đề xuất thành lập tổ công tác liên ngành ngay tại địa bàn, có đủ thẩm quyền để xử lý trực tiếp những vấn đề thường gây ách tắc như nguồn gốc đất, giá bồi thường, tái định cư, mỏ vật liệu và bãi đổ thải. Việc bàn giao mặt bằng cũng cần chuyển từ phương thức manh mún sang bàn giao theo những đoạn đủ dài, tạo điều kiện để nhà thầu tổ chức thi công liên tục và nâng cao năng suất.
Các cơ quan quản lý cần cập nhật thường xuyên năng lực của từng nhà thầu, khối lượng đang thực hiện tại các dự án khác cũng như khả năng huy động thiết bị và nhân lực. Đối với những nhà thầu vi phạm tiến độ kéo dài, cần áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp theo quy định, từ điều chuyển khối lượng, bổ sung nhà thầu phụ đến chấm dứt hợp đồng trong trường hợp cần thiết. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm vốn đầu tư công được phân bổ cho những dự án và nhà thầu có khả năng thực hiện thực chất, hạn chế tình trạng vốn đã bố trí nhưng không thể giải ngân do năng lực triển khai yếu.
Trong tháng 7/2026, KBNN tiếp tục phối hợp với cơ quan thu trên địa bàn để tập trung nhanh, hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản thu vào ngân sách, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành ngân sách.
Cùng với nhiệm vụ quản lý thu - chi, KBNN tiếp tục tham mưu Bộ Tài chính tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ, bám sát diễn biến thị trường và điều hành linh hoạt kỳ hạn, lãi suất nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của ngân sách Trung ương.
Tính đến ngày 31/7, tổng khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành qua đấu thầu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đạt 201.165 tỷ đồng, bằng 40,2% kế hoạch phát hành năm 2026 là 500.000 tỷ đồng. Riêng trong quý III/2026, khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành đạt 18.604 tỷ đồng, bằng 15,5% kế hoạch quý III đã thông báo ra thị trường là 120.000 tỷ đồng. Kỳ hạn phát hành bình quân đạt 9,23 năm, kỳ hạn còn lại bình quân của danh mục trái phiếu Chính phủ là 8,17 năm, trong khi lãi suất phát hành bình quân ở mức 4,13%/năm.
Các hệ thống thanh toán trong nội bộ KBNN cũng như thanh toán với hệ thống ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được duy trì ổn định, bảo đảm hoạt động thông suốt, an toàn và kịp thời.
Trong những tháng còn lại của năm 2026, bài toán đặt ra không chỉ là tiếp tục huy động nguồn thu mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực ngân sách vào nền kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao hơn. Nếu giải ngân được tập trung vào những dự án có khả năng hoàn thành, tạo khối lượng thực tế và lan tỏa đến các ngành, địa phương, đầu tư công sẽ phát huy tốt hơn vai trò là một động lực tăng trưởng. Ngược lại, nguồn vốn chậm được đưa vào nền kinh tế sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các mục tiêu phát triển.
Vì vậy, theo dõi sát tiến độ, xử lý nhanh điểm nghẽn, điều chuyển vốn kịp thời và gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân đang là những yêu cầu then chốt để tăng tốc đầu tư công trong những tháng cuối năm.





