Thái Nguyên số hóa ngành chè nâng giá trị từ vùng nguyên liệu đến thị trường

Diễn biến - Dự báo 07/08/2026 16:59

Thái Nguyên đang đẩy nhanh chuyển đổi số toàn ngành chè, từ quản lý vùng nguyên liệu, canh tác, chế biến đến truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu cơ bản hình thành hệ sinh thái số đồng bộ, qua đó nâng chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của thương hiệu chè Thái Nguyên trên thị trường trong nước và quốc tế.

Với diện tích khoảng 22.200 ha, chiếm khoảng 17% diện tích chè cả nước và sản lượng khoảng 272.000 tấn chè búp tươi mỗi năm, chè đang là một trong những ngành hàng nông nghiệp chủ lực của Thái Nguyên.

Trong giai đoạn mới, tỉnh xác định chuyển đổi số là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, chuẩn hóa sản xuất, kiểm soát chất lượng và mở rộng thị trường. Mục tiêu không chỉ là số hóa từng khâu sản xuất mà hướng tới hình thành hệ sinh thái số xuyên suốt chuỗi giá trị ngành chè.

d0ec44ef-ecd6-412c-b6cd-2579552edf59_1786092885.png
Thái Nguyên số hóa ngành chè nâng giá trị từ vùng nguyên liệu đến thị trường

Theo lộ trình của tỉnh, đến năm 2030, 100% xã, phường có diện tích chè sẽ thiết lập đầu mối dữ liệu ngành chè. Tối thiểu 70% diện tích chè được xây dựng bản đồ GIS và toàn bộ hồ sơ mã số vùng trồng được quản lý, giám sát trên môi trường số.

Đây được xem là bước nền tảng để chuyển phương thức quản lý từ thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu, giúp cơ quan quản lý nắm bắt chính xác diện tích, vùng nguyên liệu, chủ thể sản xuất và tình trạng sản xuất tại từng khu vực. Cùng với đó, tỉnh đặt mục tiêu tối thiểu 80% sản phẩm sử dụng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể và sản phẩm OCOP có hồ sơ số, truy xuất nguồn gốc, nhận diện số và hộ chiếu số sản phẩm.

100% doanh nghiệp, hợp tác xã có vùng nguyên liệu chè cũng được định hướng ứng dụng công nghệ số ở mức phù hợp trong canh tác, quản lý chuỗi và truy xuất nông sản, từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển đến tiêu thụ. Việc định danh số từng vùng nguyên liệu, hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ tạo nền tảng để hình thành hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất, minh bạch và có khả năng kết nối với các hệ thống dữ liệu khác.

Không dừng ở việc xây dựng cơ sở dữ liệu, Thái Nguyên định hướng đưa công nghệ số trực tiếp vào hoạt động sản xuất. Trong giai đoạn tới, tỉnh đặt mục tiêu xây dựng tối thiểu 5 mô hình vùng chè thông minh và 10 mô hình cơ sở chế biến chè thông minh. Tối thiểu 80% hợp tác xã, doanh nghiệp chè có sản phẩm OCOP được định hướng áp dụng phần mềm quản trị sản xuất - kinh doanh phù hợp. Các giải pháp chuyển đổi số sẽ được triển khai trên nhiều khâu, từ quản lý vùng nguyên liệu, canh tác, giám sát vật tư nông nghiệp, kiểm soát chất lượng đến chế biến, quản trị doanh nghiệp và thương mại.

Theo đó, ngành nông nghiệp và môi trường cùng các địa phương sẽ xây dựng nền tảng dữ liệu số ngành chè, bản đồ số vùng chè và hệ thống quản lý mã số vùng trồng. Đồng thời, phát triển truy xuất nguồn gốc, nhận diện số, hộ chiếu số sản phẩm và các giải pháp chống hàng giả. Trong khâu chế biến, công nghệ số được kỳ vọng hỗ trợ kiểm soát quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, quản trị cơ sở chế biến và nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu.

1786089172887_1571057577528116018_5278310596846785215_4934f654c78f8679fa40e1c9f997aeca_1786092941.jpg
Toàn tỉnh hiện có trên 17.800 ha chè áp dụng sản xuất an toàn, trong đó 5.963 ha được chứng nhận VietGAP và 179 ha được chứng nhận hữu cơ

Ở khâu thị trường, thương mại điện tử, truyền thông số, dữ liệu thị trường và xúc tiến thương mại số sẽ được tăng cường nhằm đưa sản phẩm chè Thái Nguyên tiếp cận trực tiếp hơn với người tiêu dùng và các thị trường tiềm năng.

Thực tế cho thấy, ngành chè Thái Nguyên đã có nền tảng sản xuất tương đối vững chắc. Toàn tỉnh hiện có trên 17.800 ha chè áp dụng sản xuất an toàn, trong đó 5.963 ha được chứng nhận VietGAP và 179 ha được chứng nhận hữu cơ. Cơ bản các vùng sản xuất chè tập trung đã ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước. Giá trị thu được bình quân trên 1 ha đất trồng chè đạt khoảng 400-600 triệu đồng/năm. Tại một số vùng chè đặc sản như Tân Cương, La Bằng, giá trị có thể đạt khoảng 800 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng/ha. Những kết quả này cho thấy cây chè không chỉ mang lại giá trị sản xuất lớn mà còn có dư địa để tiếp tục nâng cao giá trị thông qua tiêu chuẩn hóa, ứng dụng công nghệ và phát triển thương hiệu.

Theo ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ cùng chuyển đổi số trong phát triển ngành chè thời gian qua đã được triển khai tương đối đồng bộ, gắn với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và doanh nghiệp. Quá trình này góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm chè Thái Nguyên.

Trong thời gian tới, ngành nông nghiệp tỉnh sẽ tiếp tục tăng cường quản lý, giám sát vùng nguyên liệu và cấp, quản lý mã số vùng trồng. Việc sử dụng vật tư nông nghiệp, hóa chất cũng được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu sản xuất ban đầu. Tỉnh tiếp tục hỗ trợ các cơ sở sản xuất áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, ISO trong sản xuất, chế biến chè.

Đáng chú ý, Thái Nguyên định hướng xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu số thống nhất về ngành chè trên phạm vi toàn tỉnh. Theo đó, mỗi vùng nguyên liệu, hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đều được định danh và cập nhật dữ liệu thường xuyên. Đây sẽ là cơ sở để kiểm soát tốt hơn nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm, đồng thời tạo điều kiện để người tiêu dùng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý tiếp cận thông tin một cách minh bạch.

Khi dữ liệu được kết nối xuyên suốt từ vùng trồng đến thị trường, giá trị của sản phẩm chè không còn chỉ được quyết định bởi sản lượng mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng, nguồn gốc, tiêu chuẩn, thương hiệu và khả năng đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Với lợi thế về vùng nguyên liệu, chất lượng sản phẩm và thương hiệu đã được xây dựng qua nhiều năm, Thái Nguyên có cơ sở để đưa ngành chè bước sang giai đoạn phát triển mới. Hệ sinh thái số nếu được triển khai đồng bộ sẽ giúp ngành chè nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã tổ chức sản xuất tốt hơn, đồng thời tăng khả năng truy xuất và chống giả. Quan trọng hơn, dữ liệu số có thể trở thành công cụ để ngành chè chủ động nắm bắt nhu cầu thị trường, xác định xu hướng tiêu dùng, xây dựng sản phẩm phù hợp và mở rộng hoạt động xúc tiến thương mại.

Đến năm 2030, mục tiêu của Thái Nguyên không chỉ là có những vùng chè sản xuất hiện đại mà hướng tới một ngành chè được quản trị bằng dữ liệu, sản xuất minh bạch, chế biến thông minh và tiêu thụ trên nền tảng số. Từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng, mỗi mắt xích được định danh và kiểm soát sẽ góp phần củng cố niềm tin của người tiêu dùng, nâng giá trị thương hiệu và mở rộng thị trường cho chè Thái Nguyên.

Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là ứng dụng thêm công nghệ vào sản xuất chè, mà là bước chuyển căn bản trong phương thức quản trị và tổ chức ngành hàng, tạo nền tảng để cây chè Thái Nguyên phát triển hiện đại, xanh, minh bạch, bền vững và có sức cạnh tranh cao hơn trong chuỗi giá trị nông nghiệp.

Diệp Bắc
Tin đáng đọc