Liên kết chuỗi khí – điện – công nghiệp mở rộng dư địa tăng trưởng xanh

Diễn biến - Dự báo • 03/11/2026 15:30

Kết nối đồng bộ hạ tầng khí tự nhiên, LNG với các nhà máy điện và khu công nghiệp được xem là hướng đi quan trọng nhằm khai thác hiệu quả nguồn năng lượng, tối ưu chuỗi giá trị và mở rộng không gian phát triển công nghiệp. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút các dự án đầu tư quy mô lớn.

Tại khu vực Đông Nam Bộ, Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS), đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), đang cung cấp khí tự nhiên khai thác trong nước cho các nhà máy điện Nhơn Trạch 1 và 2, đồng thời cấp LNG cho Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 của Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power). Bên cạnh đó, PV GAS còn cung cấp khí tự nhiên cho Nhà máy Đạm Phú Mỹ thuộc Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo - Phú Mỹ).

Theo PV GAS, sản lượng khí cấp cho Nhà máy Đạm Phú Mỹ trong năm 2026 dự kiến đạt 590 triệu m³ tiêu chuẩn, cơ bản duy trì ổn định cả về sản lượng và giá cả trong trung, dài hạn. Tuy nhiên, nguồn khí dành cho sản xuất điện tại khu vực đang có xu hướng vượt nhu cầu huy động thực tế.

hinh-0220260429144031_1793679885.jpg
Liên kết chuỗi khí – điện – công nghiệp mở rộng dư địa tăng trưởng xanh

Ước tính trong năm 2026, khả năng cung cấp khí của PV GAS đạt khoảng 6,4 tỷ m³ tiêu chuẩn, gồm 3,3 tỷ m³ khí nội địa và 3,1 tỷ m³ LNG. Trong khi đó, lượng khí nội địa tiêu thụ chỉ gần 2,9 tỷ m³, còn LNG phục vụ sản xuất điện dự kiến khoảng 900 triệu m³ theo kế hoạch của Bộ Công Thương.

Với mức tiêu thụ hiện nay, kho LNG Thị Vải có công suất 1 triệu tấn/năm mới được khai thác chưa tới 40% công suất. Dự báo trong năm 2027, lượng khí PV GAS có khả năng cung cấp cho sản xuất điện tiếp tục cao hơn nhu cầu huy động thực tế.

Thực trạng này đặt ra yêu cầu tìm kiếm thêm các thị trường tiêu thụ, mở rộng đối tượng khách hàng và nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng khí. Thay vì chủ yếu phục vụ các nhà máy điện và sản xuất phân đạm như hiện nay, khí tự nhiên và LNG cần được kết nối sâu hơn với các ngành công nghiệp có nhu cầu sử dụng năng lượng lớn.

Theo dự báo của Wood Mackenzie, nhu cầu khí đốt của Việt Nam có thể tăng bình quân 12% mỗi năm và tăng gấp ba lần vào giữa những năm 2030 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Trong đó, sản xuất điện tiếp tục là lĩnh vực tiêu thụ khí chủ yếu, với dự báo khí và LNG đóng góp khoảng 14% tổng sản lượng điện vào năm 2030.

Dù triển vọng nhu cầu dài hạn tích cực, hệ thống hạ tầng khí của PV GAS hiện vẫn tập trung chủ yếu ở phía Nam và phụ thuộc đáng kể vào nhu cầu từ các nhà máy điện, phân đạm. Việc mở rộng kết nối với các khu công nghiệp, khu kinh tế vì thế được xem là hướng đi cần thiết để khai thác hiệu quả hơn nguồn năng lượng này.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, cho rằng khí tự nhiên và LNG không chỉ là nhiên liệu đầu vào cho sản xuất điện, phân đạm mà còn là nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành công nghiệp nền tảng. Tuy nhiên, hạ tầng khí hiện nay chủ yếu phục vụ các nhà máy điện và sản xuất phân đạm, trong khi khả năng kết nối trực tiếp với các khu công nghiệp còn hạn chế.

Theo ông, việc mở rộng kết nối hạ tầng khí với các khu công nghiệp, khu kinh tế sẽ góp phần tối ưu chuỗi giá trị, hình thành không gian tăng trưởng mới, thúc đẩy công nghiệp xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Một số chuyên gia đề xuất phát triển các mô hình kết nối linh hoạt như hệ thống đường ống trực tiếp, kho LNG vệ tinh và trung tâm năng lượng tích hợp. Đồng thời, cần xem xét đưa hạ tầng khí vào danh mục hạ tầng thiết yếu của các khu công nghiệp, khu kinh tế, kết hợp cơ chế hợp tác công tư (PPP) và các hợp đồng mua bán khí dài hạn để tạo điều kiện thu hút đầu tư.

Về phía doanh nghiệp, PV GAS đang tập trung nghiên cứu cân đối cung - cầu khí tại khu vực phía Nam, đồng thời mở rộng hệ thống kho cảng LNG tại các địa bàn chiến lược ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Một số dự án đáng chú ý gồm Kho LNG Bắc Trung Bộ (Kho LNG Vũng Áng) và Kho cảng PV GAS Hải Phòng.

Đáng chú ý, tháng 7/2026, PV GAS, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh và Nebula Energy (Hoa Kỳ) đã ký thỏa thuận nghiên cứu đầu tư Trung tâm Dữ liệu tại Khu kinh tế Vũng Áng. Dự án hướng tới khai thác nguồn nhiệt lạnh từ quá trình tái hóa LNG phục vụ vận hành trung tâm dữ liệu, mở ra hướng kết nối giữa hạ tầng năng lượng và hạ tầng số, qua đó gia tăng giá trị cho chuỗi LNG.

Cùng với đó, PV GAS và MobiFone đã ký thỏa thuận hợp tác nghiên cứu phát triển trung tâm dữ liệu và hạ tầng số, hướng tới hình thành hệ sinh thái kết nối năng lượng với công nghệ thông tin. PV GAS và PV Power cũng ký biên bản ghi nhớ về mua bán khí LNG tái hóa cho Dự án Nhà máy điện LNG Vũng Áng III, công suất 1.500 MW.

Những bước đi này cho thấy định hướng mở rộng thị trường tiêu thụ khí không chỉ dừng ở lĩnh vực năng lượng truyền thống mà còn hướng tới các ngành công nghiệp công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và những lĩnh vực có nhu cầu lớn về năng lượng ổn định.

Tại cuộc họp ngày 14/10/2026 về đánh giá tiềm năng tổng thể chuỗi giá trị khí - điện, LNG - điện tại khu vực phía Bắc, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường nhấn mạnh, tập đoàn có đủ năng lực, kinh nghiệm và điều kiện để triển khai đồng bộ chuỗi giá trị năng lượng, từ thượng nguồn, trung nguồn đến hạ nguồn.

Với lợi thế trong phát triển nguồn khí nội địa, đầu tư hạ tầng LNG nhập khẩu, hệ thống kho cảng, đường ống, vận tải và nhà máy điện, Petrovietnam có thể xây dựng phương án tổng thể, chủ động kết nối các khâu trong chuỗi và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Theo định hướng này, việc kết nối hạ tầng khí từ miền Trung với miền Nam, đồng thời thúc đẩy phát triển ra miền Bắc sẽ từng bước hình thành mạng lưới hạ tầng khí trên phạm vi toàn quốc. Khi được đầu tư đồng bộ, hệ thống sẽ tăng khả năng điều phối nguồn cung, tận dụng hạ tầng dùng chung, mở rộng thị trường tiêu thụ và tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Petrovietnam cũng xác định cần nghiên cứu tiềm năng khí tại miền Trung và miền Bắc trong mối liên hệ với các nguồn cung hiện có, kết hợp phương án nhập khẩu LNG dài hạn để đáp ứng nhu cầu của các nhà máy điện và khách hàng công nghiệp.

Việc phát triển liên kết hạ tầng khí - điện - khu công nghiệp không chỉ giúp khai thác hiệu quả hơn các nguồn năng lượng mà còn tạo nền tảng hình thành những tổ hợp công nghiệp hiện đại, thân thiện với môi trường. Đây được kỳ vọng sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, thu hút đầu tư và mở rộng dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế trong những năm tới.

Minh Trí
Tin đáng đọc