Xuất khẩu hồ tiêu tăng trưởng, mở rộng cơ hội chinh phục thị trường lớn
7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam tăng trưởng tích cực cả về lượng và giá trị. Trong khi đó, yêu cầu kỹ thuật tại các thị trường lớn ngày càng khắt khe, đặt ra đòi hỏi kiểm soát chặt chất lượng từ vùng nguyên liệu để giữ vững thị trường xuất khẩu.
Thách thức rào cản kỹ thuật từ những thị trường lớn
Theo báo cáo của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 1,087 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 10,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khối doanh nghiệp là hội viên VPSA xuất khẩu 137.640 tấn, chiếm 81,7% tổng lượng xuất khẩu. Riêng tháng 7/2026, xuất khẩu hồ tiêu đạt 22.743 tấn, với kim ngạch 147,3 triệu USD. Mặc dù giảm 1,6% về lượng và 2,6% về giá trị so với tháng trước, lượng xuất khẩu vẫn tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2025. Tiêu đen nguyên hạt tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ yếu, với 19.623 tấn, tương đương 86,3% tổng lượng xuất khẩu.
Bên cạnh những con số xuất khẩu khả quan, thị trường hồ tiêu thế giới cũng ghi nhận những chuyển biến quan trọng về nguồn cung và nhu cầu. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Việt Anh, Tổng Thư ký VPSA, cho hay thị trường hồ tiêu thế giới từ đầu năm đến nay tiếp tục được hỗ trợ bởi nguồn cung ở mức thấp, trong khi nhu cầu tại nhiều thị trường lớn có dấu hiệu phục hồi. Tồn kho hồ tiêu toàn cầu hiện còn khoảng 170 nghìn tấn, trong đó Việt Nam khoảng 50-60 nghìn tấn.
Vụ thu hoạch hồ tiêu của Việt Nam năm 2026 ước đạt khoảng 170 nghìn tấn, giảm 12,8% so với năm trước. Nguồn cung hạn chế là một trong những yếu tố giúp giá hồ tiêu duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi cho xuất khẩu trong những tháng cuối năm, dù doanh nghiệp vẫn chịu tác động từ chi phí logistics và những bất ổn địa chính trị. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường quan trọng đối với hồ tiêu Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hồ tiêu 6 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Hoa Kỳ tăng 18,2%. Kết quả này cho thấy năng lực cung ứng và vị thế của hồ tiêu Việt Nam tại một trong những thị trường tiêu thụ lớn của thế giới.
Cùng với cơ hội từ nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng phải đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Trong 6 tháng đầu năm 2026, số cảnh báo của Liên minh châu Âu đối với nhóm hàng này giảm từ 34 trường hợp cùng kỳ năm 2025 xuống 22 trường hợp; riêng hồ tiêu giảm từ 5 xuống 3 trường hợp. Dù vậy, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vẫn là vấn đề cần đặc biệt lưu ý khi chiếm khoảng 50% số cảnh báo của EU đối với nhóm gia vị. Kết quả kiểm tra cho thấy một số hoạt chất vẫn xuất hiện với tần suất cao; đáng chú ý, trong nhóm 10 hoạt chất xuất hiện nhiều qua thống kê, có tới 6 hoạt chất đã bị EU cấm sử dụng.
Giải pháp kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu
Kết quả kiểm định thực tế đòi hỏi ngành hàng phải nghiêm túc nhìn nhận và thay đổi công tác quản lý an toàn thực phẩm. Đánh giá về sự cải thiện số liệu cảnh báo từ thị trường quốc tế, bà Nguyễn Thị Phượng Vĩ, Trưởng Bộ phận Tư vấn Eurofins Sắc Ký Hải Đăng cho biết, nếu như trước đây, nhóm gia vị thường nằm trong nhóm 5 ngành hàng có số cảnh báo cao nhất của thị trường EU thì trong 6 tháng đầu năm nay, con số này đã giảm đáng kể, xuống khoảng vị trí thứ 10. Kết quả cho thấy công tác kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và ý thức tuân thủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp đã có nhiều chuyển biến. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với uy tín và sức cạnh tranh của gia vị Việt Nam.
Không chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu kiểm tra hiện hành, doanh nghiệp xuất khẩu còn cần chuẩn bị cho một xu hướng mới trong quản lý an toàn thực phẩm của Liên minh châu Âu, đó là đánh giá rủi ro tích lũy. Phân tích rõ hơn về cơ chế này, đại diện Eurofins Sắc Ký Hải Đăng chia sẻ, trước đây, việc đánh giá chủ yếu dựa trên từng hoạt chất và so sánh với mức dư lượng tối đa. Tuy nhiên, EU đang chuyển sang xem xét tổng mức phơi nhiễm của người tiêu dùng đối với nhiều hoạt chất có cùng cơ chế tác động lên một cơ quan hoặc chức năng của cơ thể.
Chương trình nghiên cứu này được EU triển khai từ năm 2021 và dự kiến hoàn tất vào năm 2030. Trong đó, Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu đã xác định 46 hoạt chất ưu tiên cùng các chất chuyển hóa để đưa vào diện nghiên cứu. Hiện EU vẫn áp dụng các quy định về mức dư lượng tối đa theo Quy định (EC) số 396/2005. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Phượng Vĩ, sau khi chương trình nghiên cứu hoàn tất, EU có thể điều chỉnh mức dư lượng tối đa đối với một số hoạt chất ưu tiên, đặc biệt là những hoạt chất thường xuyên xuất hiện trong các sản phẩm gia vị.
Sự chuyển dịch trong quy định này đòi hỏi doanh nghiệp không chờ đến khi quy định mới có hiệu lực mới điều chỉnh sản xuất. Thay vào đó, cần chủ động theo dõi chính sách, rà soát danh mục thuốc bảo vệ thực vật, kiểm soát vùng nguyên liệu và tăng cường kiểm nghiệm để giảm nguy cơ phát sinh các hoạt chất có khả năng bị siết chặt trong tương lai. Đối với hồ tiêu, tình trạng dư lượng thuốc đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải rà soát danh mục thuốc đang sử dụng tại vùng trồng, đồng thời tăng cường kiểm soát quá trình sản xuất thay vì chỉ tập trung kiểm tra ở khâu cuối cùng.
Về lâu dài, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hồ tiêu đòi hỏi toàn ngành phải chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng sang nâng chất lượng, chế biến sâu và đẩy mạnh sản xuất xanh. Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc, đẩy mạnh nông nghiệp tái sinh và giảm phát thải carbon sẽ là những giải pháp then chốt, giúp ngành gia vị duy trì đà xuất khẩu và từng bước nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.