Việt Nam có 121 nhà khoa học được gọi tên trong một bảng xếp hạng uy tín thế giới
Bảng xếp hạng này thường được biết đến với tên gọi “Top 2% nhà khoa học thế giới”.
Ngày 7/10, nhóm nghiên cứu của Đại học Stanford (Hoa Kỳ) và Nhà xuất bản Elsevier công bố bảng xếp hạng các nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2026. Trong danh sách thành tựu trọn đời, Việt Nam có 121 nhà khoa học đến từ 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo.
Bảng xếp hạng này thường được biết đến với tên gọi “Top 2% nhà khoa học thế giới”. Trong đó, danh sách thành tựu trọn đời đánh giá ảnh hưởng khoa học tích lũy của các nhà khoa học trong toàn bộ sự nghiệp.
Theo kết quả công bố, Trường Đại học VinUni đứng đầu về số lượng nhà khoa học có tên trong danh sách tại Việt Nam với 16 người. Tiếp theo là Trường Đại học Tôn Đức Thắng với 14 người, Trường Đại học Duy Tân 13 người, Đại học Quốc gia Hà Nội 7 người, Đại học Bách khoa Hà Nội 6 người, Trường Đại học Công nghiệp TP. HCM và Trường Đại học Phenikaa cùng có 5 người.
Trong số 121 nhà khoa học có địa chỉ tại Việt Nam, 10 người có thứ hạng cao nhất thuộc nhiều lĩnh vực, từ y sinh học, năng lượng, y học nhiệt đới đến trí tuệ nhân tạo, vật liệu, tài chính và kỹ thuật công nghệ. Danh sách cụ thể như sau:
| Hạng Việt Nam | Nhà khoa học | Cơ quan | Lĩnh vực | Hạng thế giới |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Giáo sư David R. Bangsberg | Trường Đại học VinUni | Y sinh học | 8.926 |
| 2 | Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Anh Tuấn | Trường Đại học Giao thông vận tải TP. HCM | Năng lượng | 11.632 |
| 3 | Giáo sư J. Kevin Baird | Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam | Y học nhiệt đới | 13.083 |
| 4 | Giáo sư Đỗ Ngọc Minh | Trường Đại học VinUni | Trí tuệ nhân tạo | 19.173 |
| 5 | Giáo sư Choi Seung Bok | Trường Đại học Công nghiệp TP. HCM | Vật liệu | 20.647 |
| 6 | Giáo sư, Tiến sỹ Trần Xuân Bách | Đại học Quốc gia Hà Nội | Y tế công cộng | 22.065 |
| 7 | Giáo sư Phan Thiện Nhân | Trường Đại học Cửu Long | Hóa học polymer | 22.373 |
| 8 | Giáo sư, Tiến sỹ Võ Xuân Vinh | Đại học Kinh tế TP. HCM | Tài chính | 24.187 |
| 9 | Giáo sư Nguyễn Minh Thọ | Trường Đại học VinUni | Vật lý hóa học | 24.197 |
| 10 | Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Nguyễn Đình Đức | Đại học Quốc gia Hà Nội | Kỹ thuật Công nghệ | 27.065 |
Đáng chú ý, Trường Đại học VinUni có 3 nhà khoa học góp mặt trong top 10 gồm Giáo sư David R. Bangsberg, Giáo sư Đỗ Ngọc Minh và Giáo sư Nguyễn Minh Thọ. Đại học Quốc gia Hà Nội có 2 đại diện là Giáo sư, Tiến sỹ Trần Xuân Bách và Giáo sư, Tiến sỹ khoa học (GS.TSKH) Nguyễn Đình Đức.
Đặc biệt, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức là đại diện ở lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ. Năm 2026 là năm thứ 8 liên tiếp ông có tên trong bảng xếp hạng.
Ở lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đứng thứ 177 trong gần 158.000 nhà khoa học trên toàn thế giới được xếp hạng, thuộc nhóm 0,11% dẫn đầu trong danh sách thành tựu trọn đời.
Toàn bộ sự nghiệp khoa học của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức gắn với Đại học Quốc gia Hà Nội. Các hướng nghiên cứu của ông tập trung vào vật liệu và kết cấu tiên tiến, vật liệu composite và vật liệu chức năng. Quá trình nghiên cứu cũng gắn với việc đào tạo nhiều thế hệ học trò trong nước, trong đó có những người sau này trở thành giáo sư, phó giáo sư và nhà nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam và nước ngoài.
Bảng xếp hạng được nhóm nghiên cứu của Giáo sư John Ioannidis thuộc Đại học Stanford xây dựng dựa trên cơ sở dữ liệu Scopus với hơn 7 triệu nhà khoa học trên toàn thế giới.
Phương pháp xếp hạng sử dụng chỉ số ảnh hưởng tổng hợp c-score. Chỉ số này gồm 6 thành phần, trong đó có tổng số lượt trích dẫn không tính các lượt tự trích dẫn, chỉ số h, chỉ số hm và số lượt trích dẫn đối với các công trình mà nhà khoa học là tác giả duy nhất, tác giả đầu hoặc tác giả cuối.
Việc tính toán theo các tiêu chí này nhằm phản ánh không chỉ số lượng trích dẫn mà còn vai trò của nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu. Những người có nhiều công bố nhưng chủ yếu tham gia với vai trò đồng tác giả không đương nhiên có thứ hạng cao nếu mức độ ảnh hưởng theo các tiêu chí tổng hợp không tương ứng.
Các nhà khoa học được phân chia thành 20 lĩnh vực và 174 ngành chuyên môn hẹp. Danh sách chỉ lựa chọn những người thuộc nhóm 2% dẫn đầu trong từng ngành hoặc nằm trong nhóm 100.000 nhà khoa học có c-score cao nhất.