Từ vùng trồng minh bạch đến thương hiệu rau an toàn

Sản phẩm • 12/10/2026 15:51

Minh bạch từ vùng trồng đến khâu tiêu thụ đang trở thành chìa khóa cốt lõi giúp nông sản Thủ đô khẳng định chất lượng, nâng cao giá trị và tăng sức cạnh tranh trên thị trường hiện đại.

Kiến tạo vùng chuyên canh chuẩn hóa

rau1_1791780721.png
Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Đông Cao (xã Mê Linh) có khoảng 200 ha trồng rau. Ảnh: Phạm Hiếu

Theo Báo Hànộimới, thực hiện Kế hoạch số 320/KH-UBND ngày 27/11/2025 về phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030, Hà Nội đã rà soát hiện trạng sản xuất rau trên địa bàn. Kết quả cho thấy, diện tích sản xuất rau lớn nhất đạt khoảng 14.250ha; trong đó, rau chuyên canh tập trung chiếm khoảng 5.519ha, phân bố tại 269 vùng. Các mô hình sản xuất an toàn tiếp tục được mở rộng. Tại các xã, phường như Sơn Đồng, Chuyên Mỹ, Hát Môn, Hồng Sơn, Hưng Đạo, Xuân Mai, Yên Nghĩa..., các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP, GlobalGAP được phát triển với tổng diện tích 107,49ha. Hiệu quả của hướng đi này được thể hiện rõ tại các hợp tác xã.

Bà Đặng Thị Cuối, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ công nghệ cao Cuối Quý (xã Đan Phượng), cho biết với 5ha trồng đa dạng các loại rau, củ, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao để kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất, từ xuống giống, chăm sóc đến thu hoạch. Việc sản xuất trong nhà màng kết hợp ứng dụng công nghệ giúp hợp tác xã chủ động hơn trong phòng ngừa dịch bệnh, hạn chế tác động bất lợi của thời tiết, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng rau. Nhờ duy trì chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu trong nhiều năm, bình quân mỗi ngày, hợp tác xã thu hoạch từ 2 đến 4 tấn rau xanh, với giá bán khoảng 20.000-30.000 đồng/kg.

Thực tế cho thấy, khi vùng sản xuất được tổ chức bài bản, người dân không chỉ có điều kiện kiểm soát tốt hơn chất lượng đầu vào mà còn thuận lợi trong việc áp dụng quy trình sản xuất thống nhất, đáp ứng yêu cầu của các kênh phân phối. Bà Lưu Thị Hằng, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội, cho biết việc mở rộng các vùng sản xuất theo tiêu chuẩn không chỉ góp phần kiểm soát đầu vào mà còn tạo điều kiện để người sản xuất thay đổi phương thức canh tác, giảm sử dụng vật tư không cần thiết, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại. Đây cũng là tiền đề để rau an toàn Hà Nội chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa có kiểm soát.

Cùng với phát triển các vùng sản xuất tập trung, Hà Nội từng bước hình thành chuỗi cung ứng khép kín từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến phân phối; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về vùng trồng và triển khai truy xuất nguồn gốc điện tử theo từng lô hàng. Trước mắt, Thành phố lựa chọn hai vùng rau chuyên canh tập trung lớn để thí điểm, gồm vùng rau Văn Đức (xã Bát Tràng) với diện tích 200ha và vùng rau Tráng Việt (xã Mê Linh) với diện tích 397,6ha.

Minh bạch dữ liệu và kiểm soát chuỗi cung ứng

htx1_1791780481.jpg
Sản phẩm rau của HTX sản xuất và kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức được đóng gói trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: Bảo Bình - Quyết Thắng

Ngành Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản, thực phẩm thành phố Hà Nội tại địa chỉ check.hanoi.gov.vn. Hệ thống được định hướng tích hợp với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từng bước kết nối và chia sẻ dữ liệu. Đến nay, dữ liệu của Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp Văn Đức (xã Bát Tràng) và Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Đông Cao (xã Mê Linh) đã được khởi tạo. Các nhóm thông tin được cập nhật gồm thông tin hợp tác xã, số hộ sản xuất, giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, VietGAP, đối tác cung cấp và nhập hàng hóa, danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng.

Việc đưa dữ liệu về tận vùng trồng có ý nghĩa quan trọng, bởi truy xuất nguồn gốc chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi thông tin được hình thành ngay từ đầu chuỗi sản xuất. Ông Đỗ Thành Thuận, Phó Chủ tịch UBND xã Bát Tràng, cho biết việc xây dựng dữ liệu từ vùng sản xuất giúp cơ quan quản lý có thêm công cụ theo dõi quá trình sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, đơn vị phân phối và người tiêu dùng tiếp cận thông tin về nguồn gốc sản phẩm. Ông Đỗ Thành Thuận chia sẻ: “Khi được thực hiện đồng bộ, truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở việc xác định nơi sản xuất mà còn từng bước minh bạch hóa quá trình hình thành sản phẩm”.

Cùng với việc xây dựng dữ liệu vùng trồng, công tác kiểm soát vật tư nông nghiệp tại các khu vực sản xuất cũng được tăng cường. Tại xã Bát Tràng và Mê Linh, lực lượng chức năng đã kiểm tra 15 cửa hàng kinh doanh vật tư nông nghiệp, gồm 12 cửa hàng tại Bát Tràng và 3 cửa hàng tại Mê Linh. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện hai cửa hàng vi phạm tại Bát Tràng. Trên cơ sở đó, UBND xã Bát Tràng đã ban hành hai quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 9 triệu đồng.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Mạnh Phương, thời gian tới, Sở tiếp tục rà soát, củng cố các vùng rau chuyên canh tập trung; hoàn thiện dữ liệu vùng trồng, hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện truy xuất nguồn gốc điện tử và mở rộng mô hình tại những vùng đủ điều kiện. Cùng với đó, Thành phố tăng cường kiểm tra chất lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; kiểm soát quá trình sản xuất và thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến với hệ thống phân phối.

Mục tiêu đặt ra không chỉ là hình thành các vùng rau quy mô lớn mà quan trọng hơn là xây dựng chuỗi sản xuất có khả năng kiểm soát xuyên suốt từ vùng trồng đến thị trường. Trong chuỗi đó, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc trở thành công cụ hỗ trợ quản lý chất lượng, giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng nhận diện sản phẩm, tạo cơ sở nâng cao giá trị nông sản. Khi thị trường ngày càng coi trọng chất lượng, an toàn và tính minh bạch, việc xác lập “địa chỉ” rõ ràng cho từng vùng trồng, quy trình sản xuất và lô hàng sẽ góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho rau an toàn Hà Nội.

Nguồn: Theo Báo Hànộimới
Mai Hương