Hưng Yên thúc đẩy canh tác lúa xanh, nông dân tăng lợi nhuận hơn 8 triệu đồng/ha
Mô hình canh tác lúa giảm phát thải khí nhà kính tại tỉnh Hưng Yên bước đầu mang lại hiệu quả kép khi giúp giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất và nâng lợi nhuận cho nông dân. Việc kết hợp cơ giới hóa, giảm lượng giống, sử dụng phân bón hợp lý và áp dụng kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ đang mở ra hướng sản xuất lúa tiết kiệm, thân thiện với môi trường và bền vững hơn.
Thực hiện định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh, vụ Mùa năm 2026, ngành nông nghiệp Hưng Yên tiếp tục triển khai các mô hình trình diễn giống lúa chất lượng cao gắn với ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và giảm phát thải khí nhà kính. Tại thôn An Ninh 2, xã Phụ Dực, mô hình được Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh phối hợp với các đơn vị chuyên môn và địa phương triển khai trên diện tích 15ha, thu hút 43 hộ nông dân tham gia, sử dụng giống lúa thuần chất lượng cao Hương Cốm 4.
Điểm nổi bật của mô hình là áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong các khâu sản xuất, từ làm đất, gieo cấy bằng mạ khay - máy cấy đến bón phân và phun thuốc bằng thiết bị bay không người lái. Nhờ sử dụng phương pháp cấy thay cho tập quán gieo sạ truyền thống, lượng giống được kiểm soát ở mức 35kg/ha, góp phần giảm chi phí và tạo điều kiện để cây lúa sinh trưởng thuận lợi.
Quy trình canh tác cũng được thực hiện theo định mức phân bón cụ thể, gồm 3 tấn phân hữu cơ kết hợp 0,5 tấn phân NPK Văn Điển loại 12% đạm, 5% lân và 10% kali mỗi hecta. Bên cạnh cơ giới hóa và quản lý dinh dưỡng, điều tiết nước tưới là một trong những giải pháp quan trọng để giảm phát thải từ ruộng lúa.
Bà Nguyễn Thị Mai, cán bộ kỹ thuật Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Phụ Dực, cho biết quy trình quản lý nước được thực hiện theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa. Sau khi cấy khoảng 5-10 ngày, mực nước được điều chỉnh còn 3-5cm để tạo điều kiện cho cây bén rễ, phát triển. Trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, nước được bổ sung phù hợp nhằm hỗ trợ quá trình đẻ nhánh.
Đến giai đoạn đứng cái - làm đòng, việc chủ động rút nước giúp hạn chế điều kiện yếm khí trong đất, qua đó giảm phát sinh khí mê-tan từ quá trình phân hủy chất hữu cơ. Đồng thời, biện pháp này còn khuyến khích bộ rễ phát triển sâu, giúp cây lúa cứng khỏe, tăng khả năng chống đổ và hạn chế sâu bệnh. Theo đánh giá bước đầu, việc kết hợp đồng bộ các giải pháp kỹ thuật giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất, cải thiện năng suất và tăng lợi nhuận ước tính khoảng 8,59 triệu đồng/ha so với phương thức canh tác truyền thống.
Hiệu quả của mô hình đang góp phần thay đổi nhận thức của người dân về phương thức canh tác lúa. Thay vì duy trì ruộng ngập nước liên tục và sử dụng nhiều phân bón hóa học theo tập quán cũ, nông dân từng bước tiếp cận cách sản xuất dựa trên quy trình kỹ thuật và quản lý đầu vào chặt chẽ hơn.
Gia đình ông Nguyễn Tiến Nam, một hộ sản xuất quy mô lớn tại xã Phụ Dực với tổng diện tích canh tác hơn 7ha, đã đưa trên 2,5ha ruộng vào mô hình trong vụ Mùa năm nay. Ông Nam cho biết ban đầu gia đình còn băn khoăn vì đã quen với phương thức canh tác truyền thống. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu hiệu quả thực tế từ những hộ tham gia trước đó, ông quyết định áp dụng quy trình mới.
Theo ông, ruộng lúa trong mô hình phát triển đồng đều, thân cây cứng, khả năng chống đổ tốt trước gió bão. Trong khi đó, lượng giống sử dụng, chi phí phân bón và công lao động đều được tiết giảm. Từ kết quả bước đầu, gia đình dự kiến tiếp tục duy trì và mở rộng diện tích áp dụng trong vụ tới.
Không chỉ giúp cải thiện hiệu quả sản xuất tại từng hộ, mô hình còn góp phần thúc đẩy các hợp tác xã tổ chức lại hoạt động canh tác theo hướng đồng bộ. Theo bà Nguyễn Thị Mai, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ và nông nghiệp An Ninh, ở giai đoạn đầu, việc vận động xã viên thay đổi tập quán gặp không ít khó khăn. Nhiều người vẫn cho rằng ruộng phải ngập nước thường xuyên và bón nhiều phân hóa học thì lúa mới phát triển tốt.
Để khắc phục, hợp tác xã phối hợp với cán bộ chuyên môn tuyên truyền, hướng dẫn trực tiếp trên đồng ruộng, giúp người dân từng bước nắm vững quy trình từ lựa chọn giống, sử dụng mạ khay - máy cấy đến điều tiết nước và bón phân. Việc kiên trì áp dụng tiến bộ kỹ thuật qua các vụ đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo nền tảng để hợp tác xã xây dựng và phát triển thương hiệu gạo Làng Giành trên thị trường.
Năm 2026, ngành nông nghiệp Hưng Yên triển khai mô hình canh tác lúa giảm phát thải khí nhà kính tại 4 địa phương gồm Tiên Lữ, Hồng Quang, Phụ Dực và Kiến Xương. Trong vụ Xuân năm 2026, tổng diện tích mô hình đạt 50ha với 133 hộ tham gia. Các giống lúa được lựa chọn phù hợp với điều kiện từng địa bàn, gồm Nhiệt đới 15 tại xã Tiên Lữ, Hạt Ngọc 9 tại xã Hồng Quang, Hương Cốm 4 tại xã Phụ Dực và Đông A2 tại xã Kiến Xương.
Sang vụ Mùa, mô hình tiếp tục duy trì quy mô 50ha với 106 hộ tham gia. Các giống được triển khai gồm T58 tại xã Tiên Lữ, Hạt Ngọc 9 tại xã Hồng Quang, Hương Cốm 4 tại xã Phụ Dực và Nhiệt đới 15 tại xã Kiến Xương. Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hưng Yên, kết quả bước đầu cho thấy gói kỹ thuật canh tác cải tiến mang lại nhiều lợi ích rõ rệt. Lượng giống sử dụng giảm khoảng 30%, công gieo cấy giảm 27%, công phun thuốc giảm 44% và lượng phân bón hóa học giảm 28%.
Cùng với tiết kiệm chi phí đầu vào, năng suất lúa tăng khoảng 9%. Nhờ đó, lợi nhuận của người trồng lúa tăng thêm khoảng 8,59 triệu đồng/ha, tương đương 309.200 đồng/sào Bắc Bộ so với phương thức canh tác truyền thống. Các kết quả này cho thấy việc giảm phát thải không nhất thiết làm tăng chi phí sản xuất. Nếu được tổ chức phù hợp, các giải pháp quản lý nước, sử dụng phân bón hợp lý và cơ giới hóa còn giúp nông dân nâng cao hiệu quả kinh tế.
Về môi trường, phương pháp tưới ướt khô xen kẽ góp phần tiết kiệm nước, giảm nhiên liệu phục vụ tưới tiêu và hạn chế phát sinh khí mê-tan từ ruộng lúa. Việc giảm lượng phân bón hóa học và sử dụng phân hữu cơ theo quy trình cũng góp phần cải thiện hiệu quả sử dụng vật tư nông nghiệp. Bên cạnh đó, cơ giới hóa giúp giảm sức lao động thủ công, tạo điều kiện để các hộ sản xuất quy mô lớn và hợp tác xã tổ chức sản xuất đồng bộ hơn.
Đánh giá về kết quả triển khai, ông Đào Xuân Hiệu, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hưng Yên, cho rằng mô hình canh tác lúa cải tiến gắn với giảm phát thải khí nhà kính đã cho thấy hiệu quả của việc kết hợp cơ giới hóa với các tiến bộ kỹ thuật mới. Theo ông, mô hình không chỉ giúp người dân giảm chi phí, nâng cao thu nhập mà còn góp phần chuyển đổi tư duy sản xuất từ chú trọng sản lượng sang nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường.
Thời gian tới, Chi cục sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật và từng bước nhân rộng mô hình. Việc mở rộng diện tích cần gắn với điều kiện đồng ruộng, khả năng tổ chức sản xuất của hợp tác xã và mức độ tiếp nhận kỹ thuật của nông dân để bảo đảm hiệu quả thực tế.
Từ những kết quả bước đầu, canh tác lúa giảm phát thải đang mở ra hướng phát triển phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh của ngành nông nghiệp Hưng Yên. Khi các giải pháp kỹ thuật được áp dụng đồng bộ và duy trì ổn định qua nhiều vụ, mô hình có thể góp phần nâng cao chất lượng gạo, cải thiện thu nhập cho người trồng lúa và giảm tác động môi trường trong sản xuất nông nghiệp. Đây cũng là cơ sở để địa phương tiếp tục thúc đẩy liên kết sản xuất, phát triển các sản phẩm lúa gạo có chất lượng và xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả, thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững.





