Nghị quyết 70 tạo chuyển biến mới trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia

Tiêu điểm 20/08/2026 23:37

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhiều mục tiêu đã được lượng hóa, chương trình hành động được cụ thể hóa và các dự án hạ tầng năng lượng trọng điểm được thúc đẩy. Tư duy về an ninh năng lượng cũng đang chuyển từ bảo đảm đủ nguồn cung sang xây dựng một hệ thống năng lượng chủ động, linh hoạt, hiện đại, xanh và có khả năng chống chịu trước những biến động toàn cầu.

Ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW, tiếp nối và phát triển những định hướng lớn của Nghị quyết số 55-NQ/TW năm 2020 về chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh, cạnh tranh địa kinh tế gia tăng, quá trình chuyển dịch xanh diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nghị quyết đã đặt an ninh năng lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với an ninh quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô, quốc phòng-an ninh, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.

Theo Nghị quyết 70-NQ/TW, đến năm 2030, tổng cung năng lượng sơ cấp của Việt Nam phấn đấu đạt khoảng 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất nguồn điện khoảng 183-236 GW hoặc cao hơn tùy nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội; sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 25-30%, trong khi tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 8-10%.

nang-luong-mat-troi-3_1787196978.png
Nghị quyết 70 tạo chuyển biến mới trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia

Những mục tiêu này đặt ra yêu cầu rất lớn trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng nhanh. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, riêng quý II tăng 8,39%. Lũy kế 7 tháng, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt hơn 203,3 tỷ kWh, tăng khoảng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Điều đó cho thấy bài toán bảo đảm năng lượng không chỉ là đáp ứng nhu cầu trước mắt mà đã trở thành nhiệm vụ dài hạn, gắn với năng lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Sau một năm triển khai, Nghị quyết 70-NQ/TW đã được cụ thể hóa khá nhanh trong hệ thống chính trị và các chủ thể của ngành năng lượng. Theo cập nhật của Bộ Công Thương đến ngày 30/6/2026, có 21/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành chương trình hoặc kế hoạch thực hiện; 34/34 tỉnh, thành phố ban hành văn bản triển khai Nghị quyết 328/NQ-CP và Nghị quyết 70-NQ/TW; 5/5 doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng ban hành chương trình, kế hoạch thực hiện.

Việc các mục tiêu của nghị quyết nhanh chóng được chuyển thành chương trình và nhiệm vụ cụ thể cho thấy an ninh năng lượng đang được tiếp cận theo hướng tổng thể hơn. Từ quy hoạch, đầu tư, tài chính, đất đai, môi trường, công nghệ đến quản trị vận hành, mỗi mắt xích đều có vai trò trong việc hình thành một hệ thống năng lượng đủ mạnh và có khả năng ứng phó với biến động.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng nhấn mạnh an ninh năng lượng quốc gia là một trong những trụ cột quan trọng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững, đồng thời gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đời sống nhân dân. Yêu cầu năng lượng phải đi trước một bước tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn mới.

Trong quá trình triển khai, ngành Công Thương đang tập trung đa dạng hóa nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng than, dầu trong nước, thúc đẩy năng lượng mới và tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Cùng với đó, việc hoàn thiện thể chế và chính sách nhằm phát triển thị trường năng lượng theo hướng cạnh tranh, minh bạch đang được đẩy mạnh, trong đó có quá trình sửa đổi các luật liên quan đến điện lực, dầu khí và các lĩnh vực năng lượng quan trọng khác. Các dự án hạ tầng năng lượng trọng điểm cũng được thúc đẩy nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Một thay đổi đáng chú ý trong tư duy bảo đảm an ninh năng lượng là không chỉ tập trung vào việc có đủ nguồn điện mà còn phải xây dựng hệ thống điện hiện đại, thông minh và có độ tin cậy cao. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đưa độ tin cậy cung cấp điện vào Top 3 ASEAN. Để thực hiện mục tiêu này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, vận hành hệ thống điện.

Hiện 100% dữ liệu thiết bị trên lưới truyền tải đã được số hóa trên hệ thống PMIS. Trong 10 năm qua, số lượng trạm biến áp 220kV tăng hơn 70%, nhưng nhờ ứng dụng công nghệ điều khiển từ xa và trạm không người trực, số lao động vận hành đã giảm hơn 50%.

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), thiết bị bay không người lái (UAV) và dữ liệu thời gian thực trong giám sát thiết bị đang từng bước thay đổi phương thức quản trị rủi ro. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào kiểm tra định kỳ, hoạt động vận hành có thể chuyển dần sang mô hình giám sát dựa trên dữ liệu và cảnh báo sớm.

Bên cạnh yêu cầu bảo đảm đủ điện, chuyển dịch sang mô hình năng lượng sạch hơn cũng là nhiệm vụ xuyên suốt. Nghị quyết 70-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới và năng lượng sạch, đồng thời khai thác hợp lý năng lượng hóa thạch, phát triển điện khí, điện hạt nhân và từng bước giảm tỷ trọng điện than phù hợp với điều kiện thực tế. Trong đó, năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng được xem là hai hướng quan trọng để vừa đáp ứng nhu cầu năng lượng vừa giảm áp lực phát thải.

Ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, cho rằng những bất ổn địa chính trị đang làm gia tăng nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, trong khi giá nhiên liệu hóa thạch biến động mạnh. Các cơ chế như thuế carbon và Thỏa thuận xanh của châu Âu cũng đặt ra yêu cầu mới đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, tiết kiệm năng lượng không còn chỉ là giải pháp giảm chi phí mà trở thành một yêu cầu đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nếu chính sách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trước đây chủ yếu dựa trên khuyến khích, các quy định mới đang tăng cường công cụ quản lý và giám sát. Doanh nghiệp sẽ phải xây dựng kế hoạch sử dụng năng lượng gắn với các chỉ tiêu cụ thể về mức tiêu hao, đồng thời tăng cường kiểm toán năng lượng và tiếp cận các giải pháp công nghệ mới.

Bộ Công Thương cũng đang thúc đẩy xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp xác định tiềm năng tiết kiệm năng lượng và đổi mới công nghệ. Việc xây dựng Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực cho quá trình chuyển đổi này. Trong tổng thể an ninh năng lượng, dầu khí vẫn giữ vai trò quan trọng đối với bảo đảm nguồn cung xăng dầu, khí và nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp.

Ông Lê Mạnh Cường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh kinh tế, chính trị và địa chính trị thế giới biến động nhanh, năng lượng đã trở thành vấn đề chiến lược, gắn trực tiếp với độc lập, tự chủ và an ninh quốc gia.

Theo ông Cường, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới, Việt Nam cần một nguồn năng lượng ổn định, an toàn và bền vững. Với Petrovietnam, bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh mà còn là trách nhiệm đối với Nhà nước và nền kinh tế.

Năm 2025 đánh dấu một tín hiệu đáng chú ý khi sau 11 năm liên tục suy giảm, sản lượng khai thác dầu thô trong nước đã tăng trở lại. Tuy nhiên, dầu thô trong nước hiện mới đáp ứng khoảng 35-40% nhu cầu, trong khi 60-65% phải nhập khẩu để phục vụ chế biến xăng dầu.

Thực tế này cho thấy đa dạng hóa nguồn cung đang trở thành yêu cầu quan trọng. Trước những biến động tại Trung Đông có nguy cơ ảnh hưởng đến thị trường năng lượng, Petrovietnam đã phối hợp với các cơ quan liên quan tìm kiếm nguồn cung thay thế từ châu Mỹ và châu Phi, góp phần bảo đảm Nhà máy Lọc dầu Dung Quất duy trì hoạt động liên tục với công suất trên 100%.

Từ đây, ngoại giao năng lượng ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng. Đa dạng hóa nguồn cung LNG, dầu thô, nhiên liệu phục vụ điện hạt nhân hay tiếp cận công nghệ mới không còn đơn thuần là hoạt động thương mại mà đòi hỏi hợp tác quốc tế, cơ chế hợp tác Chính phủ với Chính phủ, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ.

Sau một năm triển khai, Nghị quyết 70-NQ/TW đang tạo ra những chuyển động rõ nét trong cách tiếp cận vấn đề năng lượng của Việt Nam. Từ mục tiêu bảo đảm đủ năng lượng, tư duy chính sách đang mở rộng sang xây dựng một hệ thống năng lượng chủ động, đa dạng, thông minh, tiết kiệm và có khả năng chống chịu trước những cú sốc từ bên ngoài.

Những chương trình hành động đã được ban hành, các chỉ tiêu được lượng hóa, thể chế tiếp tục được hoàn thiện, hạ tầng được thúc đẩy và các doanh nghiệp năng lượng chủ lực đang thay đổi phương thức quản trị theo hướng số hóa, hiện đại và bền vững.

Trong giai đoạn phát triển mới, an ninh năng lượng không còn là nhiệm vụ riêng của ngành năng lượng mà trở thành nền tảng của tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia và mục tiêu phát triển bền vững. Việc hiện thực hóa Nghị quyết 70-NQ/TW vì vậy sẽ có ý nghĩa quyết định trong bảo đảm để năng lượng thực sự đi trước một bước, tạo nền tảng cho Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong những thập niên tới.

Diệp Oanh
Tin đáng đọc