Kinh tế tư nhân sau một năm chuyển động cùng Nghị quyết 68
Sau một năm triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo động lực mới cho khu vực kinh tế tư nhân và thúc đẩy nhiều thay đổi về tư duy chính sách. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và thực thi vẫn còn lớn khi doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực phi chính thức tiếp tục gặp khó bởi chi phí tuân thủ, thủ tục hành chính và tâm lý e ngại mở rộng hoạt động.
Tại tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68” diễn ra ngày 13/5, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng khu vực kinh tế tư nhân đã ghi nhận những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn không ít “điểm nghẽn” cần tháo gỡ để đạt các mục tiêu phát triển dài hạn.
TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) nhận định, Nghị quyết 68 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế tư nhân, không chỉ tạo thay đổi về nhận thức mà còn mở ra động lực mới cho quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại.
Theo ông Lê Minh Nghĩa, nghị quyết đã đề cập khá đầy đủ từ thực trạng, nguyên nhân đến giải pháp. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay là mức độ chuyển biến của chính sách trong thực tế và hiệu quả triển khai đến doanh nghiệp.
Ông cũng dẫn mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp và đến năm 2045 đạt 3 triệu doanh nghiệp. Dù vậy, nếu so với nhiều quốc gia trên thế giới, mật độ doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn khá thấp. Trong khi bình quân thế giới cứ khoảng 9 người có một doanh nghiệp, Singapore khoảng 10 người/doanh nghiệp và Hàn Quốc khoảng 6,6 người/doanh nghiệp thì Việt Nam hiện nay khoảng 100 người mới có một doanh nghiệp.
Điều này cho thấy Việt Nam còn nhiều việc phải làm để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Ở góc nhìn khác, TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng sau một năm thực hiện Nghị quyết 68, số lượng doanh nghiệp thành lập mới đã tăng tích cực với tốc độ khoảng 22%.
Tuy nhiên, mức tăng này vẫn chưa đủ để đạt mục tiêu khoảng 200.000 doanh nghiệp mới mỗi năm, nhất là trong bối cảnh số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao. TS Lê Xuân Nghĩa cũng bày tỏ lo ngại trước xu hướng suy giảm đầu tư tư nhân. Theo ông, có thời điểm khu vực tư nhân chiếm tới khoảng 91% tổng vốn đầu tư nền kinh tế, nhưng hiện nay tỷ lệ này chỉ còn khoảng 67%.
Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất cao tiếp tục ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư của doanh nghiệp. Theo ông, nguyên nhân không chỉ đến từ áp lực lạm phát hay biến động kinh tế quốc tế mà còn xuất phát từ các “điểm nghẽn kỹ thuật” trong vận hành nền kinh tế.
Liên quan đến thương mại quốc tế, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng dù Việt Nam đã tham gia khoảng 17 hiệp định thương mại tự do nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn chưa hưởng lợi tương xứng. Nhiều lĩnh vực xuất khẩu chủ lực như dệt may hay nông nghiệp vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp FDI.
Do đó, Việt Nam cần nâng cao năng lực công nghiệp nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp công nghệ thay vì tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào mô hình gia công hoặc một số thị trường xuất khẩu truyền thống.
Cùng quan điểm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng dấu ấn lớn nhất của Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy và định hướng chính sách, với hàng loạt văn bản pháp luật được ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho khu vực kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên, theo ông Bình, sự hứng khởi hiện chủ yếu tập trung ở nhóm doanh nghiệp lớn, thể hiện qua việc nhiều dự án quy mô hàng nghìn tỷ đồng liên tiếp được khởi công. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và kinh tế phi chính thức lại xuất hiện tâm lý lo ngại khi cách tiếp cận quản lý hiện nay vẫn nặng tính kiểm soát thay vì đồng hành. Điều này khiến nhiều hộ kinh doanh có xu hướng chia nhỏ quy mô để tránh ngưỡng doanh thu hoặc nghĩa vụ thuế. Thậm chí, không ít trường hợp quay trở lại giao dịch tiền mặt thay vì thanh toán qua ngân hàng.
Theo TS Lê Duy Bình, xu hướng này có nguy cơ làm gia tăng trở lại khu vực kinh tế phi chính thức và đi ngược mục tiêu minh bạch hóa nền kinh tế. Ông cũng cho rằng Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp nếu không thay đổi căn bản tư duy về mô hình doanh nghiệp. Trong khi nhiều quốc gia có tỷ lệ lớn doanh nghiệp một chủ, thì tại Việt Nam số lượng loại hình này hiện còn rất thấp.
Đề cập tới cải cách thủ tục hành chính, ông Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban IV cho rằng quá trình cải cách hiện nay vẫn thiếu một triết lý tổng thể. Theo ông, nếu mỗi bộ, ngành thực hiện cải cách theo cách riêng sẽ chỉ tạo ra những thay đổi đơn lẻ, chưa tạo được tác động thực chất đối với môi trường kinh doanh.
Ông Bùi Thanh Minh nhấn mạnh điều doanh nghiệp quan tâm không phải là cắt giảm bao nhiêu thủ tục hay rút ngắn bao nhiêu ngày xử lý hồ sơ, mà là chi phí tuân thủ thực tế có được giảm hay không. Số liệu được ông dẫn lại cho thấy, trong 3 tháng đầu năm, trung bình mỗi tháng có khoảng 32.000 doanh nghiệp đăng ký mới và quay trở lại hoạt động, nhưng đồng thời cũng có khoảng 30.400 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Như vậy, số doanh nghiệp tăng ròng mỗi tháng chỉ khoảng 1.600, khiến mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 trở nên đầy thách thức.
Theo khảo sát của Ban IV, khoảng 70% doanh nghiệp hiện vẫn giữ tâm lý thận trọng hoặc bi quan về triển vọng kinh doanh. Trong khi đó, PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Tổng Thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng điểm tích cực đáng ghi nhận là tốc độ thể chế hóa chính sách sau khi Nghị quyết 68 được ban hành.
Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra rằng năng lực thực thi hiện chưa đồng bộ. Nhiều luật và nghị quyết được xây dựng theo hướng cởi mở nhưng khi triển khai qua nghị định, thông tư hoặc thực tiễn lại phát sinh thêm điều kiện kinh doanh và “giấy phép con”. Theo bà Nghiêm Thị Thà, khu vực doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh hiện cũng đang bước vào quá trình thanh lọc, buộc phải minh bạch hơn về quản trị, tài chính và nghĩa vụ thuế.
Dù còn nhiều khó khăn, các chuyên gia cho rằng tiếng nói phản biện từ báo chí, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp đang ngày càng mạnh mẽ hơn, qua đó góp phần thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh và tạo nền tảng cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững trong thời gian tới.







