Khơi thông dòng vốn cho hạ tầng năng lượng thông minh, tăng trưởng xanh
Nhu cầu đầu tư hàng trăm tỷ USD cho hệ thống điện trong nhiều thập kỷ tới đặt ra yêu cầu cấp thiết về huy động nguồn lực tài chính. Bên cạnh vốn ngân sách và nguồn lực doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng cùng các kênh tài chính xanh được kỳ vọng sẽ trở thành động lực quan trọng giúp Việt Nam phát triển hạ tầng năng lượng thông minh, bảo đảm an ninh năng lượng và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, hạ tầng năng lượng thông minh đang trở thành nền tảng quan trọng giúp nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện, thúc đẩy chuyển đổi số và hướng tới phát triển kinh tế xanh, bền vững.
Theo PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, xu hướng phát triển năng lượng của thế giới đang chuyển từ việc tập trung mở rộng công suất phát điện sang xây dựng hệ thống năng lượng có khả năng điều phối linh hoạt giữa các khâu phát điện, truyền tải, lưu trữ và tiêu thụ.
Ông cho rằng, quá trình chuyển đổi năng lượng đã bước sang giai đoạn mới khi trọng tâm không chỉ dừng ở việc phát triển các nguồn điện sạch mà còn hướng tới xây dựng hệ thống năng lượng thông minh, linh hoạt và có khả năng chống chịu cao. Đây được xem là yếu tố quan trọng để Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng xanh và nâng cao sức cạnh tranh trong nền kinh tế số.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, nguồn lực tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tại Diễn đàn "Phát triển hạ tầng năng lượng thông minh" do Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam tổ chức, ông Nguyễn Phương Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết ngoài nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng đang là kênh tài chính quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến độ đầu tư các công trình điện trọng điểm.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, trong giai đoạn 2021-2030, Việt Nam cần khoảng 134,7 tỷ USD để đầu tư các dự án nguồn điện và lưới truyền tải, trong đó gần 120 tỷ USD dành cho phát triển nguồn điện và khoảng 14,9 tỷ USD dành cho lưới điện. Sang giai đoạn 2031-2050, nhu cầu vốn dự kiến tăng lên từ 399,2 đến hơn 523 tỷ USD.
Khối lượng đầu tư khổng lồ này không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu điện phục vụ phát triển kinh tế mà còn giúp Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, mở rộng năng lượng tái tạo và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn tín dụng sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đầu tư các dự án điện gió, điện mặt trời, điện khí LNG, hệ thống lưu trữ năng lượng cũng như lưới điện thông minh. Hiện dư nợ tín dụng dành cho lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí chiếm khoảng 3% tổng dư nợ của nền kinh tế. Thông qua việc tài trợ vốn cho nhiều dự án điện quy mô lớn, hệ thống ngân hàng đã góp phần mở rộng công suất phát điện, nâng cao năng lực truyền tải và bảo đảm cung ứng điện ổn định cho nền kinh tế.
Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, ưu tiên bố trí nguồn vốn cho nhiều dự án trọng điểm như Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 và đường dây 500kV Quảng Trạch - Phố Nối với tổng giá trị tín dụng lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng.
Bên cạnh đó, ngành ngân hàng cũng hỗ trợ nguồn ngoại tệ phục vụ nhập khẩu thiết bị cho các dự án điện, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành tham mưu xây dựng các cơ chế đặc thù dành cho một số dự án chiến lược như Thủy điện Sơn La và Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Tuy nhiên, việc cấp tín dụng cho lĩnh vực điện vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Phần lớn các dự án đều có quy mô đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài, tạo áp lực lên nguồn vốn trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, không ít dự án còn gặp vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, cơ chế giá điện cũng như các vấn đề pháp lý, làm gia tăng rủi ro đối với hoạt động cấp tín dụng.
Để khơi thông dòng vốn cho phát triển hạ tầng điện, Ngân hàng Nhà nước đề xuất triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy nhanh tiến độ triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và xây dựng cơ chế giá điện minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đây được xem là nền tảng quan trọng giúp tạo môi trường đầu tư ổn định và tăng niềm tin cho các tổ chức tín dụng khi tham gia tài trợ các dự án dài hạn.
Cùng với đó, cần đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư thông qua phát triển mạnh thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư hạ tầng và thúc đẩy hoạt động đồng tài trợ giữa các ngân hàng đối với những dự án quy mô lớn. Đồng thời, ưu tiên nguồn tín dụng xanh cho các dự án năng lượng sạch và lưới điện thông minh nhằm giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Một giải pháp khác được nhấn mạnh là tăng cường cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai các công trình năng lượng trọng điểm. Song song với đó, các doanh nghiệp điện lực cũng cần nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn chủ sở hữu, minh bạch quản trị doanh nghiệp và kiểm soát tốt rủi ro dự án.
Theo nhiều chuyên gia, bên cạnh việc hoàn thiện quy hoạch và chính sách phát triển năng lượng, xây dựng cơ chế huy động vốn hiệu quả, mở rộng tài chính xanh và phát triển các kênh dẫn vốn dài hạn sẽ là yếu tố quyết định giúp Việt Nam đẩy nhanh đầu tư hạ tầng năng lượng thông minh.
Không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đây còn là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn mới.





