Đồng Tháp nâng giá trị trái cây từ mã số vùng trồng

Diễn biến - Dự báo 13/08/2026 15:21

Từ lợi thế gần 135.000 ha cây ăn trái và sản lượng hơn 2,5 triệu tấn mỗi năm, Đồng Tháp đang chuyển trọng tâm từ mở rộng sản lượng sang chuẩn hóa vùng nguyên liệu, quản lý mã số vùng trồng và xây dựng chuỗi giá trị nhằm nâng chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị trái cây xuất khẩu.

Những năm gần đây, cùng với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Đồng Tháp từng bước hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái quy mô lớn, phù hợp với điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường. Sầu riêng, mít, xoài, thanh long, dừa, dứa và nhóm cây có múi đang trở thành những ngành hàng có nhiều tiềm năng. Diện tích cây ăn trái của tỉnh hiện đạt trên 134.900 ha, sản lượng hơn 2,5 triệu tấn/năm. Trong đó, sầu riêng có khoảng 32.100 ha, sản lượng 556.916 tấn; mít khoảng 25.685 ha, sản lượng 437.433 tấn.

Quy mô vùng nguyên liệu lớn tạo điều kiện để Đồng Tháp tổ chức sản xuất hàng hóa tập trung, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, sản lượng càng lớn thì yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng, bảo quản sau thu hoạch và điều tiết thị trường càng cao.

Tại Đồng Tháp Mười, cây dứa đang trở thành một trong những cây trồng chủ lực với khoảng 15.000 ha chuyên canh, sản lượng gần 260.000 tấn mỗi năm. Việc hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác đang tạo cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp, từng bước tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa.

nong-dan-thu-hoach-khom-1838-1-8009-3668-1653922697_1786596883.jpg
Đồng Tháp nâng giá trị trái cây từ mã số vùng trồng

Theo ông Bùi Kế Bính, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Phước 1, dứa hiện có khoảng 7.400 ha tại địa phương. Nhờ áp dụng kỹ thuật xử lý rải vụ, nông dân có thể cung ứng sản phẩm quanh năm. Địa phương đang xây dựng mã số vùng trồng cho cây dứa, dự kiến đến cuối năm 2026 có hơn 1.700 ha được cấp mã số, tạo điều kiện mở rộng thị trường và nâng giá trị sản phẩm.

Không chỉ cây dứa, nhiều ngành hàng trái cây khác cũng đang chuyển mạnh sang sản xuất theo tiêu chuẩn và gắn với thị trường. Ông Trần Trung Quý, Giám đốc Hợp tác xã Hưng Thịnh Phát, xã Tân Thuận Bình cho biết, hợp tác xã đang sản xuất thanh long ruột đỏ theo tiêu chuẩn VietGAP trên vùng nguyên liệu khoảng 115 ha. Sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao và đã xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, với sản lượng khoảng 300 tấn mỗi tháng.

Đáng chú ý, 100% diện tích sản xuất của hợp tác xã đã được cấp mã số vùng trồng; sản phẩm được sơ chế, đóng gói tại cơ sở có mã số, qua đó bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc. Theo Liên minh Hợp tác xã tỉnh Đồng Tháp, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ theo chuỗi giá trị là hướng đi tất yếu để nâng giá trị nông sản, giảm rủi ro thị trường và cải thiện thu nhập cho nông dân.

Trong chuỗi liên kết, hợp tác xã có vai trò tập hợp các hộ sản xuất nhỏ lẻ, hình thành vùng nguyên liệu đủ quy mô để kết nối với doanh nghiệp và các thị trường lớn. Đến nay, toàn tỉnh có 273 hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng. Trong đó, 168 hợp tác xã liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, 101 hợp tác xã liên kết tiêu thụ đầu ra và 4 hợp tác xã liên kết cung ứng dịch vụ đầu vào.

Tuy nhiên, đây mới là những mô hình tiêu biểu, trong khi một phần đáng kể diện tích cây ăn trái vẫn cần tiếp tục được chuẩn hóa. Theo số liệu mới nhất, Đồng Tháp có 3.553 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu, thuộc 1.601 vùng trồng với tổng diện tích 148.996,63 ha. Trong số này, 3.486 mã số thuộc 1.537 vùng trồng đã được nước nhập khẩu phê duyệt; 67 mã số thuộc 64 vùng trồng đang chờ phê duyệt. Đối với thị trường nội địa, tỉnh đã cấp 1.868 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt, với diện tích 185.952,45 ha.

Ở khâu đóng gói, có 504 mã số cơ sở phục vụ xuất khẩu đã được nước nhập khẩu phê duyệt và 132 mã số đã kiểm tra, đang chờ phê duyệt. Những con số này cho thấy Đồng Tháp đang sở hữu một nền tảng tương đối lớn để phát triển xuất khẩu trái cây. Tuy nhiên, cấp mã số mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là duy trì các điều kiện sản xuất, kiểm soát chất lượng và khai thác hiệu quả mã số sau khi được cấp.

Mã số vùng trồng vì vậy không đơn thuần là điều kiện kỹ thuật để đưa trái cây ra nước ngoài, mà còn thúc đẩy người sản xuất thay đổi phương thức canh tác, ghi chép nhật ký, kiểm soát vật tư đầu vào, minh bạch nguồn gốc và nâng cao trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện cho biết tỉnh đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp, ứng dụng công nghệ số để kết nối doanh nghiệp với nông dân, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu được chuẩn hóa.

Tỉnh cũng tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý mã số vùng trồng, minh bạch hóa thông tin nhằm hạn chế vi phạm và xử lý những vấn đề phát sinh trong một số ngành hàng xuất khẩu, trong đó có yêu cầu kiểm soát sầu riêng nhiễm cadimi.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp Lê Hà Luân, thời gian tới, tỉnh tiếp tục phát huy lợi thế diện tích cây ăn trái hiện có, tập trung vào những ngành hàng có thị trường tốt, từng bước hình thành vùng nguyên liệu gắn với truy xuất nguồn gốc.

Cùng với đó, Đồng Tháp khuyến khích rải vụ thu hoạch theo nhu cầu thị trường, đẩy mạnh cấp mới và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm tuân thủ quy định của thị trường nhập khẩu.

UBND tỉnh cũng đã ban hành Kế hoạch thực hiện việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói giai đoạn 2026-2030, hướng tới đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.

Mục tiêu đến năm 2030, 100% diện tích vùng trồng đủ điều kiện và 100% cơ sở đóng gói nông sản phục vụ xuất khẩu được cấp, quản lý và duy trì mã số theo quy định. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh dự kiến cấp mới mã số cho 159.779 ha, gồm 52.214 ha lúa, nếp; 89.737 ha cây lâu năm, trong đó có cây ăn trái, dừa và 17.829 ha hoa màu.

Đến năm 2030, tổng diện tích được cấp và duy trì mã số vùng trồng dự kiến đạt 377.722 ha. Trong đó, lúa, nếp đạt 203.082 ha; cây lâu năm 153.440 ha và hoa màu 21.200 ha. Đồng thời, 100% cơ sở sơ chế, gia công, đóng gói nông sản phục vụ xuất khẩu đủ điều kiện sẽ được cấp và quản lý mã số.

Điểm mới trong định hướng của Đồng Tháp là chuyển từ tư duy “cấp mã số” sang quản lý, duy trì và khai thác hiệu quả mã số. Theo đó, cấp xã sẽ hướng dẫn, xác nhận hồ sơ và kiểm tra hiện trạng vùng trồng; cơ quan chuyên môn tổ chức thẩm định thực tế trước khi cấp mã. Sau khi được cấp, vùng trồng và cơ sở đóng gói tiếp tục được kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất.

Song song với đó, tỉnh đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu về vị trí địa lý, diện tích, sản lượng, chủ thể sản xuất, nhật ký canh tác, sinh vật gây hại và quy trình sản xuất. Đây là nền tảng để chuyển từ quản lý thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu, phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu.

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu và mã số vùng trồng mới là một mắt xích trong quá trình nâng giá trị trái cây. Để tạo ra giá trị gia tăng bền vững, Đồng Tháp còn phải đồng thời giải quyết bài toán liên kết sản xuất, chế biến, bảo quản và logistics.

Thực tế cho thấy, nhiều vùng sản xuất đã đạt quy mô lớn nhưng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật sự bền vững. Hợp đồng tiêu thụ dài hạn còn hạn chế, một số hợp tác xã chưa đủ năng lực điều phối vùng nguyên liệu, trong khi doanh nghiệp chưa đầu tư tương xứng vào vùng sản xuất.

Ông Dương Văn Đây, nông dân canh tác 2,7 ha sầu riêng tại xã Ngũ Hiệp, cho rằng liên kết sản xuất là yếu tố quan trọng để nâng chất lượng và giá trị sầu riêng. Nông dân cần phối hợp với nhà khoa học và cơ quan chuyên môn để xử lý các vấn đề kỹ thuật, trong đó có yêu cầu kiểm soát cadimi, đồng thời tuân thủ nghiêm quy trình sản xuất, ghi chép nhật ký và kiểm soát vật tư đầu vào.

Bà Trần Thanh Phong, Giám đốc Hợp tác xã Mỹ Phong, cho biết hợp tác xã sản xuất và kinh doanh bưởi da xanh, có khả năng bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và xây dựng mã số vùng trồng. Tuy nhiên, việc tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ vẫn còn những hạn chế, chưa hình thành được vùng nguyên liệu thực sự bền vững.

Theo bà, doanh nghiệp và nông dân cần chia sẻ lợi ích và rủi ro trong quá trình liên kết. Khi lợi ích của các bên được gắn kết, chuỗi sản xuất mới có thể duy trì ổn định, bảo đảm sản lượng và chất lượng nông sản trong dài hạn.

Từ góc độ quản lý, việc triển khai kế hoạch mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng không chỉ giúp Đồng Tháp đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của thị trường xuất khẩu, mà còn tạo động lực tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô, minh bạch và chuyên nghiệp hơn.

Quan trọng hơn, khi mã số vùng trồng được quản lý bằng dữ liệu, gắn với hợp tác xã, doanh nghiệp, chế biến và thị trường tiêu thụ, Đồng Tháp có thể từng bước chuyển từ tư duy sản xuất nông sản sang tư duy phát triển ngành hàng.

Đây sẽ là nền tảng để tỉnh khai thác tốt lợi thế vùng nguyên liệu lớn, nâng chất lượng, tăng giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, đưa trái cây Đồng Tháp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nông sản trong nước và quốc tế.

Uyên Diệp
Tin đáng đọc