Trước cánh cửa Halal, doanh nghiệp Việt cần chuẩn bị gì?

Thị Trường 12/06/2026 09:55

Với hơn 2 tỷ người tiêu dùng tại hơn 110 quốc gia, thị trường Halal mở ra dư địa lớn cho hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, để tham gia sâu vào hệ sinh thái này, doanh nghiệp cần chuẩn bị bài bản về tiêu chuẩn, chứng nhận và chiến lược phát triển dài hạn.

Nhận diện thách thức từ thị trường Halal

hoi_1781232177.png
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Ngô Anh Văn.

Tại hội thảo “Halal - Cánh cửa vào thị trường toàn cầu cho doanh nghiệp”, ông Huỳnh Xuân Sơn, Phó Giám đốc Sở Công Thương Đà Nẵng cho rằng, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang khu vực này là yêu cầu cấp thiết. Mặc dù sở hữu lợi thế lớn về nông sản và thủy sản, thực tế cho thấy số lượng doanh nghiệp Việt Nam khai thác hiệu quả thị trường Halal vẫn còn khiêm tốn do thiếu thông tin thị trường cũng như gặp rào cản trong quy trình chứng nhận đặc thù.

Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Trà My, đại diện Văn phòng Chứng nhận Halal Việt Nam cho biết nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn ngay từ bước xác định mục tiêu chiến lược. Cụ thể, việc không khoanh vùng thị trường mục tiêu như Indonesia, Malaysia hay khu vực Trung Đông khiến doanh nghiệp lúng túng trong việc lựa chọn tiêu chuẩn chứng nhận phù hợp, từ đó dẫn đến lãng phí nguồn lực tài chính. Từ thực trạng này, bà My nhấn mạnh rằng sai lầm phổ biến nhất là doanh nghiệp xem Halal như một cơ hội ngắn hạn thay vì một cam kết dài hạn, dẫn đến sự thiếu chuẩn bị về hệ thống quản lý chất lượng cũng như nguồn nhân lực am hiểu văn hóa Hồi giáo.

Không chỉ dừng lại ở rào cản về nhận thức, thách thức còn đến từ yêu cầu rà soát chuỗi cung ứng đầu vào hết sức khắt khe. Theo ghi nhận của Văn phòng Chứng nhận Halal Việt Nam, trong quá trình đánh giá ban đầu tại nhiều cơ sở sản xuất, có tới hai phần ba số lượng nguyên liệu không đáp ứng được yêu cầu Halal. Vì vậy, việc thay thế các thành phần này thường ảnh hưởng trực tiếp đến đặc tính sản phẩm, buộc doanh nghiệp phải dành nhiều thời gian để nghiên cứu và điều chỉnh. Bên cạnh đó, việc nhận diện các nguy cơ nhiễm chéo trong quá trình sản xuất và logistics cũng là điểm nghẽn nghiêm trọng mà nhiều đơn vị vẫn chưa thực sự chú trọng trong công tác quản trị.

Từ những khó khăn trên, ông Mirash Basheer, Giám đốc Lulu Việt Nam cho biết các tập đoàn bán lẻ quốc tế như Lulu sở hữu bộ tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp vô cùng khắt khe. Việc thiếu kiến thức về yêu cầu truy xuất nguồn gốc cũng như các quy định của luật Hồi giáo Shari’ah khiến nhiều doanh nghiệp Việt bỏ lỡ cơ hội hợp tác ngay từ vòng đàm phán đầu tiên. Thực tế cho thấy, rào cản lớn nhất không nằm ở chất lượng nông sản hay thủy sản, mà nằm ở việc hệ thống quản trị chưa được chuẩn hóa để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế của những thị trường nhập khẩu lớn.

Xây dựng hệ sinh thái Halal bền vững

hang_1781232270.png
Các sản phẩm đạt tiêu chuẩn được trưng bày trong khuôn khổ hội nghị. Ảnh: Nguyễn Phong

Nhằm tháo gỡ những thách thức nêu trên, ông Huỳnh Xuân Sơn cho rằng doanh nghiệp cần chủ động cải tiến quy trình sản xuất, đồng thời tăng cường kết nối với các tổ chức chứng nhận uy tín như JAKIM hay MUI. Theo ông, đây không chỉ là giải pháp giúp mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn là yếu tố quan trọng để Đà Nẵng nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng khách du lịch và nhà đầu tư đến từ các quốc gia Hồi giáo. Việc hình thành hệ sinh thái đạt chuẩn Halal sẽ giúp địa phương từng bước trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới giao thương quốc tế chất lượng cao trong tương lai.

Để hiện thực hóa định hướng này, bà Nguyễn Thị Trà My khuyến nghị doanh nghiệp cần tiến hành rà soát tổng thể cơ sở vật chất, đồng thời đào tạo nhận thức cho nhân sự một cách toàn diện trước khi đăng ký chứng nhận. Bà My cũng lưu ý rằng doanh nghiệp cần hiểu chứng nhận Halal chỉ là điều kiện cần, chứ không phải bảo chứng cho việc có đơn hàng ngay lập tức. Do đó, các đơn vị phải xây dựng lộ trình chuyển đổi từ nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất đến hệ thống quản lý chất lượng, đồng thời duy trì sự cam kết lâu dài bởi đây là quá trình đầu tư đòi hỏi tính chuyên nghiệp và sự bền bỉ cao.

Chia sẻ kinh nghiệm thực tế để minh chứng cho điều đó, bà Mai Thị Ý Nhi, Giám đốc Công ty Mỹ Phương Food cho biết đơn vị đã mất 4 năm theo đuổi chứng nhận Halal cho các dòng sản phẩm bánh dừa nướng. Bà Nhi khẳng định rằng dù sản phẩm có nguồn gốc thực vật, doanh nghiệp vẫn phải kiểm soát hết sức nghiêm ngặt nguy cơ nhiễm chéo trong kho bãi và hoạt động logistics. Theo bà, bài học đắt giá nhất chính là sự kiên trì, bởi doanh nghiệp phải mất gần 3 năm sau khi được cấp chứng nhận mới có được đơn hàng Halal đầu tiên. Tuy nhiên, nếu không có chứng nhận này, doanh nghiệp gần như không thể bắt đầu quá trình tiếp cận và đối thoại với các nhà nhập khẩu tại thị trường Hồi giáo.

Tiếp nối câu chuyện về cơ hội, ông Mirash Basheer, Giám đốc Lulu Việt Nam cho biết đơn vị đã hỗ trợ đưa nhiều mặt hàng Việt Nam như dừa, trái cây đóng gói, cà phê và gạo vào hệ thống phân phối tại Trung Đông. Theo ông, sản phẩm Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng cạnh tranh với các thương hiệu quốc tế tại thị trường này nếu tuân thủ đúng quy trình làm việc chuyên nghiệp. Ông cũng khuyến khích doanh nghiệp tích cực tham gia các chương trình kết nối trực tiếp B2B Matching nhằm nắm bắt nhu cầu thực tế của đối tác, từ đó điều chỉnh chiến lược xuất khẩu phù hợp với yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, doanh nghiệp cần tận dụng tối đa các đề án hỗ trợ của Chính phủ trong việc tiếp cận thông tin và công nghệ. Sự kết hợp giữa nỗ lực tự thân trong quá trình chuẩn hóa hệ thống quản trị với các hoạt động xúc tiến thương mại chuyên sâu sẽ tạo nên sức bật mạnh mẽ cho hàng hóa Việt Nam. Khi vượt qua được những rào cản về tiêu chuẩn, doanh nghiệp không chỉ mở ra cánh cửa bước vào thị trường Hồi giáo mà còn có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó góp phần khẳng định vị thế ngày càng vững chắc của thương hiệu Việt trên bản đồ Halal quốc tế.