Nhà thơ duy nhất Việt Nam từng làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, được đặt tên cho tuyến đường có nhiều trường ĐH nổi tiếng
Không chỉ là nhà thơ, nhà ngoại giao nổi tiếng, ông còn là người đặt nền móng cho nhiều cơ quan báo chí lớn của đất nước.
Trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam, cố nhà báo, nhà thơ, nhà ngoại giao Xuân Thủy là một gương mặt đặc biệt. Trong một lần nhắc về ông, Tổng Bí thư Trường Chinh đã nói: “Anh Xuân Thủy có phong cách rất Bác Hồ… Ở anh Xuân Thủy người ta thấy có sự kết hợp hài hòa giữa tài năng và đức độ, giữa tính cách dân tộc truyền thống và văn minh thời đại”.
Làm báo trong tù, viết giữa những năm tháng khốc liệt
Xuân Thủy tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm, sinh ngày 2/9/1912 tại thôn Hòe Thị, xã Phương Canh, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc Nam Từ Liêm, Hà Nội). Ông là một trong những nhà hoạt động cách mạng, nhà báo đầu tiên của Việt Nam, đồng thời cũng là nhà ngoại giao, nhà thơ và chính khách có nhiều dấu ấn trong lịch sử hiện đại của đất nước.
Sinh ra trong gia đình giàu truyền thống Nho giáo, Xuân Thủy sớm tham gia các tổ chức yêu nước, chống thực dân Pháp. Từ năm 1932, ông hoạt động cách mạng thông qua báo chí. Bút danh Xuân Thủy cũng xuất hiện từ thời kỳ này và theo ông suốt cuộc đời hoạt động.
Ngay từ khi ngoài 20 tuổi, Xuân Thủy đã cộng tác với nhiều tờ báo nổi tiếng như Trung Bắc Tân văn, Hà thành Ngọ báo, Tin tức, Đời nay… Từ Hà Nội lên Phúc Yên cũ hoạt động, ông vừa tuyên truyền giác ngộ cách mạng, tập hợp thanh niên, vừa viết bài phục vụ phong trào đấu tranh dân chủ.
Ngày 1/1/1937, phái đoàn Chính phủ Pháp do Gô-đa dẫn đầu tới Đông Dương. Phong trào đón Gô-đa thực chất là các cuộc biểu tình đòi dân chủ diễn ra rộng khắp. Xuân Thủy đã tổ chức lực lượng từ Phúc Yên về Hà Nội tham gia phong trào.
Sau sự kiện này, nông dân Lê Văn Thân bị Tuần phủ Phúc Yên đe dọa, dùng triện đồng đánh vào tay vì tham gia biểu tình. Xuân Thủy đã thảo cho Lê Văn Thân một lá đơn kiện, đưa cho vợ và người em họ bí mật gửi đăng báo Le Travail (Lao Động) của Đảng. Vụ việc nhanh chóng được nhiều tờ báo trong nước và cả báo chí Pháp đăng tải lại.
Dưới áp lực dư luận, lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, một viên quan đầu tỉnh phải ra tòa với tư cách bị cáo trước nguyên đơn là một nông dân. Đây được xem là sự kiện đặc biệt trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam.
Từ năm 1938 đến 1943, Xuân Thủy nhiều lần bị bắt giam, lưu đày nhưng vẫn tiếp tục viết báo và tổ chức hoạt động tuyên truyền cách mạng trong tù.
Năm 1941, trong lần bị giam tại Nhà tù Sơn La, ông cùng các đồng chí như Nguyễn Lương Bằng, Tô Hiệu, Trần Đăng Ninh, Trần Huy Liệu, Nguyễn Cơ Thạch… xuất bản tờ “Suối Reo”. Đây là tờ báo trong tù rất nổi tiếng, có tiếng vang khi Đảng chưa giành được chính quyền và có vị trí rất vẻ vang trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam.
Cũng trong thời gian bị giam tại Hỏa Lò, Xuân Thủy viết bài thơ “Không giam được trí óc” với tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng: “Đế quốc tù ta, ta chẳng tù/Ta còn bộ óc, ta không lo/Giam người, khóa cả chân tay lại/Chẳng thể ngăn ta nghĩ tự do”.
Sau khi ra tù, được ông Lê Quang Đạo móc nối hoạt động trở lại, Xuân Thủy tiếp tục công tác Đảng và viết bình luận quốc tế cho báo Cứu Quốc. Đến năm 1944, ông được Tổng Bí thư Trường Chinh giao giữ vai trò Chủ nhiệm kiêm Chủ bút báo Cứu Quốc.
Dưới sự điều hành của Xuân Thủy, báo Cứu Quốc trở thành cơ quan báo chí có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông vừa lãnh đạo tờ báo, vừa trực tiếp viết bài với nhiều bút danh như Chu Lang, Tất Thắng, Ngô Tất Thắng…
Ngày 21/10/1944, báo Cứu Quốc đăng bài “Đông Dương sắp thành bãi chiến trường”, trong đó Xuân Thủy dự báo chính xác cục diện chiến tranh thế giới và thời cơ cách mạng của Việt Nam: “Quân thù đang yếu. Cơ hội tốt đang đến. Với quyết tâm chiến đấu, thắng lợi nhất định về ta!”.
Chỉ chưa đầy một năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công.
Trước Tổng khởi nghĩa, báo Cứu Quốc nhiều lần thay đổi địa điểm hoạt động bí mật. Song Phượng là nơi cuối cùng tờ báo đặt cơ sở trước khi phát đi Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa.
Xuân Thủy luôn coi trọng vai trò của quần chúng trong hoạt động báo chí. Ông xây dựng mạng lưới thông tín viên từ nhiều tầng lớp xã hội, kể cả những nông dân không biết chữ, bởi theo ông, chính đời sống nhân dân mang lại những thông tin chân thực nhất.
Mỗi khi phóng viên hoàn thành bài viết, ông thường tổ chức đọc tập thể cho công nhân, nông dân nghe để kiểm tra mức độ dễ hiểu trước khi đăng tải.
Báo Cứu Quốc sau đó trở thành tờ báo cách mạng duy nhất xuất bản hằng ngày với số lượng phát hành lớn nhất trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp.
Người đặt nền móng cho hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Xuân Thủy được giao phụ trách công tác tuyên truyền của chính quyền cách mạng non trẻ.
Tối 19/8/1945, tại cuộc họp của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Bắc Bộ, ông đề xuất thành lập Nha Thông tin Bắc Bộ và Đài Phát thanh quốc gia.
Ngày 22/8/1945, tại số 4 Đinh Lễ (Hà Nội), Xuân Thủy tổ chức cuộc họp triển khai xây dựng hệ thống cơ quan thông tin tuyên truyền đầu tiên của nước Việt Nam mới.
Ông giao ông Trần Kim Xuyến phụ trách Việt Nam Thông tấn xã, ông Trần Lâm phụ trách Đài Tiếng nói Việt Nam và ông Chu Văn Tích xây dựng Sở Tuyên truyền Bắc Bộ.
Ngày 7/9/1945, Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng chương trình đầu tiên. Ngày 15/9/1945, các bản tin đầu tiên của Việt Nam Thông tấn xã được phát đi ra thế giới.
Ngoài ra, Xuân Thủy còn là người trực tiếp tham gia thành lập Đoàn Báo chí Việt Nam năm 1945, Đoàn Báo chí kháng chiến năm 1947 và Hội Những người viết báo Việt Nam năm 1950 - tiền thân của Hội Nhà báo Việt Nam hiện nay.
Ngày 21/4/1950, ông triệu tập đại diện các cơ quan báo chí Trung ương tại chiến khu Việt Bắc để tổ chức Đại hội thành lập Hội Những người viết báo Việt Nam. Đại hội đã bầu Xuân Thủy làm Hội trưởng.
Ông giữ cương vị Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam trong 2 nhiệm kỳ, từ năm 1950 đến năm 1962.
Năm 1957, Xuân Thủy trở thành nhà báo Việt Nam đầu tiên được bầu làm Phó Chủ tịch Tổ chức Quốc tế các nhà báo (OIJ), đồng thời là người Việt đầu tiên nhận phần thưởng cao quý của tổ chức này.
“Nụ cười Xuân Thủy” trên bàn đàm phán Paris
Bên cạnh báo chí, Xuân Thủy còn để lại dấu ấn lớn trong lĩnh vực ngoại giao.
Giai đoạn 1961 - 1979, ông giữ cương vị Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; từng đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ năm 1963 đến năm 1965.
Từ tháng 5/1968, Xuân Thủy giữ vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam.
Trong suốt 5 năm đàm phán, ông trực tiếp tham gia 248 phiên họp công khai. Trong khi phía Mỹ thay trưởng đoàn tới 4 lần, Xuân Thủy vẫn liên tục giữ vai trò dẫn dắt đoàn Việt Nam.
Hiểu rõ sức mạnh của truyền thông quốc tế, ông chủ trương đưa các nhà báo giỏi ngoại ngữ, nghiệp vụ tham gia phái đoàn như Nguyễn Minh Vỹ, Hồng Hà, Hà Đăng, Xuân Oanh…
Trong thời gian diễn ra hội nghị, 2 đoàn Việt Nam tổ chức gần 500 cuộc họp báo và hàng trăm cuộc trả lời phỏng vấn quốc tế.
Xuân Thủy thường trực tiếp chủ trì các cuộc họp báo lớn, trả lời báo chí phương Tây bằng phong thái điềm tĩnh, lập luận sắc bén nhưng gần gũi, dí dỏm. Ông cũng dành thời gian tối đa để tiếp đại diện tổ chức hay cá nhân, từ chính khách, nhà báo, trí thức, nhà tu hành, triệu phú, văn nghệ sĩ đến công nhân, già trẻ, gái trai đến gặp ông để hỏi những điều họ chưa rõ, kể cả người chưa có thiện ý, xin gặp để truy vặn, tìm chỗ sơ hở của ta.
Với thái độ thân thiện, chân thành, với cách trả lời khôn khéo của một nhà báo lão luyện, với kiến thức đông tây kim cổ, ông đã giải đáp thỏa đáng mọi điều và gây được thiện cảm ngày càng cao.
Những năm tháng ấy, hình ảnh “Nụ cười Xuân Thủy” luôn được phương Tây nhắc đến như không chỉ của con người Xuân Thủy mà còn là biểu tượng của sự tự tin, thân thiện, lạc quan Việt Nam.
Những hoạt động báo chí và vận động dư luận quốc tế của đoàn Việt Nam đã góp phần tạo nên phong trào phản chiến mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ, góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị Paris và thắng lợi mùa Xuân năm 1975.
Xuân Thủy còn được nhắc nhớ bởi lối sống thanh liêm, giản dị.
Khi rời quê hương lên Hà Nội hoạt động, ông nhường lại ngôi nhà của gia đình cho một nông dân nghèo. Sau này, theo nguyện vọng của ông, gia đình tiếp tục hiến tặng biệt thự số 36 Lý Thường Kiệt cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
Dù hoạt động trên nhiều lĩnh vực, báo chí vẫn là công việc Xuân Thủy gắn bó sâu đậm nhất trong suốt cuộc đời.
Chiều 18/6/1985, trong cơn mưa lớn, ông đột ngột qua đời khi đang ngồi trước bản thảo dang dở mang tên “Những chặng đường Báo Cứu Quốc”.
Ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của Đảng và Nhà nước.
Ngày nay, tên ông được đặt cho nhiều tuyến phố tại Hà Nội và TP. HCM. Riêng đường Xuân Thủy ở Hà Nội tập trung nhiều trường đại học lớn, trong đó có Học viện Báo chí và Tuyên truyền - nơi đào tạo nhiều thế hệ người làm báo Việt Nam.
Từ “Suối Reo” trong ngục tù Sơn La, báo Cứu Quốc thời tiền khởi nghĩa đến Hội nghị Paris, cuộc đời Xuân Thủy gắn liền với cây bút, với cách mạng và với những dấu mốc lớn của đất nước. Trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam, ông được xem là một trong những người đặt nền móng quan trọng nhất cho nền báo chí cách mạng nước nhà.
* Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Xuân Thủy - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Báo Nhân Dân
- Xuân Thủy - Nhà báo cách mạng tài hoa, người “thắp lửa” đào tạo báo chí - VietnamPlus/TTXVN
- Kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Xuân Thủy: Nhà ngoại giao xuất chúng, Nhà báo tài hoa - Báo Tin tức/TTXVN
- Nhà thơ duy nhất ở Việt Nam từng làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Là chủ tịch đầu tiên của Hội nhà báo - Báo Dân Việt
- Xuân Thủy - nhà cách mạng, nhà báo lỗi lạc - Báo Nhân Dân