Nhà thơ đặc biệt của Việt Nam có tác phẩm được phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng: Cha là học giả lừng lẫy, từng 'thầm thương trộm nhớ' mỹ nhân Hà thành, qua đời khi mới 24 tuổi

Đời sống 20/06/2026 23:41

Ông là một trong những thi sĩ đặc biệt của phong trào Thơ Mới, tạo dựng được lối đi riêng giữa một thế hệ đầy tài năng.

Nhắc tới Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938), nhiều người sẽ nhớ ngay tới bài thơ “Chùa Hương” hay “Sơn Tinh - Thủy Tinh” - những tác phẩm đã trở thành dấu ấn đặc biệt của phong trào Thơ Mới. Với lối kể chuyện tự nhiên, hóm hỉnh, giàu chất dân gian, ông được xem là một trong những gương mặt độc đáo nhất của thi đàn Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX.

Song, phía sau những vần thơ tươi sáng ấy lại là một cuộc đời ngắn ngủi với nhiều mất mát. Mồ côi mẹ từ khi mới lên 2 tuổi, liên tiếp chứng kiến người thân qua đời, mang trong mình căn bệnh lao quái ác và ra đi khi mới 24 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp để lại cho đời một sự nghiệp văn chương không đồ sộ về số lượng nhưng có sức sống bền bỉ suốt gần một thế kỷ.

“Anh Pháp" của đại gia đình Nguyễn Văn Vĩnh

Nguyễn Nhược Pháp sinh năm 1914 tại Hà Nội, là con trai của học giả, nhà báo nổi tiếng Nguyễn Văn Vĩnh và người vợ thứ hai Phan Thị Lựu - con gái một thương gia giàu có ở Lạng Sơn.

anh-man-hinh-2026-06-20-luc-14.35.35_1781941407.png
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp. Ảnh: Gia đình cung cấp

Theo Vietnamnet, năm 1913, để có nguồn tài chính phục vụ cho nghề xuất bản mới mẻ, học giả Nguyễn Văn Vĩnh kinh doanh khách sạn ở phố Hàng Trống, Hà Nội. Trong thời gian này, bà Lựu mỗi khi về Hà thành thường ở khách sạn do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ. Từ đó, họ quen biết và phải lòng nhau.

Ông Nguyễn Lân Bình - cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh, cho biết cái tên "Nhược Pháp" mang một ý nghĩa đặc biệt. Ban đầu, Nguyễn Văn Vĩnh từng tin tưởng vào lý tưởng "khai hóa" của nước Pháp. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến những chính sách bất công của chính quyền thực dân trái ngược với các giá trị tự do, bình đẳng mà cuộc Cách mạng Pháp đề cao, ông trở nên thất vọng sâu sắc. Vì thế, khi con trai ra đời năm 1914, ông đặt tên là "Nhược Pháp", với hàm ý "Nước Pháp suy yếu".

Dù sinh ra trong một gia đình có điều kiện, Nguyễn Nhược Pháp lại sớm chịu tổn thương lớn về tình cảm. Năm 1916, khi ông mới 2 tuổi, bà Phan Thị Lựu qua đời sau một biến cố gia đình. Theo nhiều tư liệu, khi biết Nguyễn Văn Vĩnh có mối quan hệ với một phụ nữ khác, bà đã hành động cực đoan trong cơn ghen và tự kết liễu cuộc đời mình.

Mất mẹ từ quá sớm, cậu bé Nguyễn Nhược Pháp được bà Đinh Thị Tính - người vợ cả của Nguyễn Văn Vĩnh, đón về nuôi dưỡng tại ngôi nhà ở phố Mã Mây. Dù là con riêng của chồng, bà Đinh Thị Tính dành cho Nguyễn Nhược Pháp sự yêu thương đặc biệt. 

20160325183522-nguyenvanvinh_1781941555.jpg
Nguyễn Nhược Pháp là con trai của học giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Ảnh: Vietnamnet

Những năm 1920, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh chuyển từ phố Mã Mây về sinh sống tại khu nhà rộng ở Thụy Khuê, đối diện trường Bưởi (nay là Trường THPT Chu Văn An). Dù là con của bà hai, Nguyễn Nhược Pháp luôn được các anh chị em trong nhà tôn trọng và gọi bằng cái tên thân mật "anh Pháp". Đây là điều khá đặc biệt trong bối cảnh xã hội đương thời vốn còn nhiều định kiến đối với con của vợ lẽ.

Từ nhỏ, Nguyễn Nhược Pháp đã nổi tiếng thông minh, học giỏi và có năng khiếu tổ chức. Mỗi sáng, ông cùng các anh chị em học chữ Nho với gia sư Phùng Năng Tĩnh trước khi đạp xe tới trường.

Trong sinh hoạt thường ngày, Nguyễn Nhược Pháp gần như là người khởi xướng mọi hoạt động của đám trẻ trong gia đình. Ông lập ra bản nội quy mang tên "Cấm nói nhảm nhí", liệt kê hàng chục từ ngữ thô tục mà mọi người không được sử dụng. Ai vi phạm sẽ bị phạt bằng những hình thức rất trẻ con như véo tai hoặc cốc đầu.

Ông còn tổ chức các buổi tập bơi ở hồ Tây, hồ Trúc Bạch, các cuộc đua xe đạp quanh hồ Tây, những chuyến dã ngoại bằng xe đạp quanh Hà Nội và nhiều hoạt động thể thao khác.

Nhược Pháp cũng là người sáng lập tờ báo gia đình mang tên “Tuổi Cười”. Báo được in thạch hai màu đỏ và tím, mỗi tháng phát hành một số gồm 16 trang. Nội dung xoay quanh những câu chuyện trong gia đình, thành tích học tập, hoạt động thể thao, các buổi diễn kịch, diễn xiếc của anh chị em. 

Không dừng lại ở đó, ông còn thành lập đội kịch gia đình, tự viết kịch bản, đạo diễn và phân vai cho các em biểu diễn. Trong ngôi nhà có xưởng in của Nguyễn Văn Vĩnh, những đứa trẻ tự dựng sân khấu, bán vé cho người lớn trong nhà đến xem như một đoàn nghệ thuật thực thụ.

Tài năng đa lĩnh vực phía sau những vần thơ nổi tiếng

Được nuôi dưỡng trong môi trường đề cao tri thức, Nguyễn Nhược Pháp sớm bộc lộ năng lực học tập nổi bật. Ông vừa đi học để thi tú tài, thi trường Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ... Ông làm thơ từ sớm và đã viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí. Nhuận bút từ những bài báo, bài thơ trở thành nguồn thu nhập giúp ông trang trải một phần cuộc sống và san sẻ gánh nặng với gia đình.

anh-man-hinh-2026-06-20-luc-14.34.27_1781941385.png
Qua lăng kính của nhà thơ, thế giới "ngày xưa" hiện lên sinh động, gần gũi, giàu sức sống. Ảnh: Gia đình cung cấp

Cũng trong giai đoạn này, ông bắt đầu khẳng định tên tuổi trên văn đàn bằng những sáng tác mang phong cách riêng biệt. 

Năm 1935, tập thơ “Ngày xưa” ra đời với vỏn vẹn 10 bài thơ. Số lượng tác phẩm không nhiều, song giá trị nghệ thuật của tập thơ đã giúp Nguyễn Nhược Pháp trở thành một trong những gương mặt đáng chú ý nhất của phong trào Thơ Mới.

Trong khi nhiều thi sĩ đương thời tập trung khai thác cái tôi cá nhân, nỗi cô đơn, tình yêu và những bi kịch nội tâm, Nguyễn Nhược Pháp lại lựa chọn một hướng đi khác. Ông tìm cảm hứng từ truyền thuyết, lịch sử, cổ tích và những sinh hoạt văn hóa dân gian của người Việt.

Năm 2018, tác giả Nguyễn Lân Bình biên soạn cuốn sách “Hoa một mùa”, mang lại cái nhìn toàn cảnh về sáng tác, qua đó thấy được tài năng của Nguyễn Nhược Pháp.

Ở lĩnh vực văn xuôi và sân khấu, tập sách giới thiệu 3 truyện ngắn gồm “Tình trẻ thơ”, “Mẹ và con”, “Bức thư” cùng 6 vở kịch: “Một chiều Chủ nhật”, “Khỏi nấc”, “Sầm Sơn”, “Bữa cơm”, “Người học vẽ”, “Người lao”. Các tác phẩm chủ yếu khai thác đời sống gia đình trong giai đoạn xã hội chuyển mình từ cũ sang mới, phản ánh những xung đột giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng hay bạn bè cùng thế hệ. Với giọng văn giản dị, hóm hỉnh nhưng giàu sức gợi, Nguyễn Nhược Pháp kín đáo khắc họa tính cách nhân vật và những biến chuyển tâm lý trong đời sống thường nhật.

Thơ vẫn là lĩnh vực làm nên tên tuổi của ông với 10 bài thơ gồm “Chùa Hương”, “Sơn Tinh - Thủy Tinh”, “Mỵ Châu”, “Giếng Trọng Thủy”, “Tay ngà”, “Mỵ Ê”, “Một buổi chiều xuân”, “Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống”, “Đi cống”, “Mây”. 

Trong đó, “Chùa Hương” là bài thơ được nhắc đến nhiều nhất. Tác phẩm được sáng tác sau chuyến đi hội chùa Hương cùng bạn bè năm 1932. Theo một số giai thoại được lưu truyền trong giới văn chương, cảm hứng của bài thơ bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ tình cờ giữa nhà thơ với một người mẹ cùng 2 cô con gái trên đường trẩy hội.

Nhiều năm sau, “Chùa Hương” được nhạc sĩ Trung Đức phổ nhạc thành ca khúc “Em đi Chùa Hương”, nhanh chóng trở thành một trong những bài hát quen thuộc với nhiều thế hệ người yêu nhạc.

anh-man-hinh-2026-06-20-luc-14.39.29_1781941409.png
"Hoa một mùa" được coi là một toàn tập của Nguyễn Nhược Pháp. Ảnh: Tri thức - Znews

Bên cạnh sáng tác, Nguyễn Nhược Pháp còn để lại 10 bài phê bình văn học viết bằng tiếng Pháp như: Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan, truyện “Vua Hàm Nghi”, “Đời mưa gió”, bài thơ “Vần và điệu” hay hoạt động sân khấu lúc bấy giờ.

Qua những trang phê bình được viết khi tuổi đời mới ngoài đôi mươi, Nguyễn Nhược Pháp cho thấy vốn kiến thức rộng, tư duy sắc sảo cùng khả năng đánh giá khách quan những ưu điểm và hạn chế của từng tác giả, tác phẩm. 

Một đời tài hoa, nhiều dang dở

Nguyễn Nhược Pháp được người thân nhận xét là thừa hưởng sự lãng mạn và đào hoa của cha. Người được nhắc đến nhiều nhất trong đời ông là Đỗ Thị Bính - con gái nhà tư sản Đỗ Bá Lợi, một trong những "tứ đại mỹ nhân Hà Thành" thời bấy giờ.

Được mô tả là người có nhan sắc nổi bật, thường mặc trang phục màu đen, Đỗ Thị Bính xuất hiện nhiều lần trong ký ức của những người từng biết Nguyễn Nhược Pháp. Nhà thơ thường đạp xe ngang qua ngôi nhà của gia đình bà ở khu phố Hàng Đẫy, lặng lẽ ngắm nhìn bóng dáng người mình thầm thương.

60c9_anh-man-hinh-2026-04-11-luc-01.04.02_1775844550_1781941360.png
dda3_anh-man-hinh-2026-04-11-luc-01.03.44_1775844549_1781941360.png
Giai nhân Hà thành Đỗ Thị Bính (mặc áo dài màu đen, hàng ngồi). Ảnh: Tư liệu

Nhiều tư liệu cho biết tình cảm ấy chưa bao giờ được bày tỏ một cách trọn vẹn. Sự rụt rè trong tính cách cùng những biến cố liên tiếp của gia đình khiến mối tình đẹp ấy mãi dừng ở những rung động đầu đời.

Ngoài câu chuyện với Đỗ Thị Bính, nhà thơ Nguyễn Vỹ từng kể về một mối tình khác của Nguyễn Nhược Pháp với một cô gái bí ẩn quen trong một chuyến tàu từ Hà Nội lên Yên Bái. Sau thời gian dài theo đuổi, khi Nguyễn Nhược Pháp quyết định bày tỏ tình cảm, cô gái bất ngờ từ chối rồi sau đó tự vẫn. Câu chuyện trở thành một trong những giai thoại buồn gắn với cuộc đời thi sĩ.

Những năm cuối đời là quãng thời gian đầy biến động đối với Nguyễn Nhược Pháp.

Năm 1933, chị gái Nguyễn Thị Nội qua đời. Năm 1936, học giả Nguyễn Văn Vĩnh mất tại Lào. Năm 1938, người chị khác là Nguyễn Thị Vân tiếp tục qua đời. Liên tiếp những cú sốc tinh thần khiến sức khỏe của nhà thơ suy giảm nhanh chóng. Ông mắc bệnh lao hạch và phải điều trị trong thời gian dài. Ngày 19/11/1938, Nguyễn Nhược Pháp qua đời tại Bệnh viện Đồn Thủy khi mới 24 tuổi. 

Trước lúc mất, ông để lại 3 bức thư dưới gối bệnh. Một bức thư viết bằng tiếng Pháp gửi lời cảm ơn các bác sĩ, y tá đã tận tình cứu chữa mình. Bức thứ 2 là lời vĩnh biệt gửi tới mẹ già, các anh chị và những người thân trong gia đình. Bức thư cuối cùng gửi cho người anh Nguyễn Giang với mong muốn ông thay mình chăm sóc mẹ và các em.

Trong một đoạn thư để lại cho gia đình, Nguyễn Nhược Pháp viết rằng bản thân không có điều gì phải hối tiếc với cuộc đời và tin rằng ở thế giới bên kia mình sẽ thanh thản hơn. Sự ra đi của ông gây xúc động lớn trong giới văn chương Hà Nội. 

Sau khi qua đời, Nguyễn Nhược Pháp được an táng tại nghĩa trang Hợp Thiện ở khu vực Quỳnh Lôi - Mai Động.

Do những biến động của lịch sử, phần mộ của ông từng bị thất lạc trong nhiều thập niên. Mãi tới đầu thế kỷ XXI, con cháu trong gia đình mới xác định lại được vị trí và đưa hài cốt ông về an táng trong khu mộ gia tộc ở Phượng Dực. 

anh-man-hinh-2026-06-20-luc-14.43.45_1781941543.png
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua nét vẽ của Tam Xuyên. Ảnh: Nông nghiệp & Môi trường

Gần 90 năm sau ngày mất, Nguyễn Nhược Pháp vẫn là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam. Cuộc đời ông chỉ kéo dài 24 năm, song những gì để lại đủ để khẳng định vị trí riêng trong lịch sử Thơ Mới. Đằng sau tiếng cười hồn hậu trong thơ là một tâm hồn nhạy cảm, mang nhiều nỗi niềm riêng tư, nhưng luôn hướng về vẻ đẹp của con người và cuộc sống.

* Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:

- Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp: “Bóng một người đương khúc khích cười” - Hội Nhà văn Việt Nam

- “Hoa một mùa” nở, sau 80 năm tài hoa bạc mệnh Nguyễn Nhược Pháp đi xa - Báo Lao Động

- Cuộc đời bi thương và 3 bức thư dưới gối của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp - Báo Vietnamnet

- Mối tình của tác giả 'Chùa Hương' với người con gái bí ẩn - Báo Vietnamnet

Anh Khôi