Nghề xưa Bắc Ninh và cuộc tìm kiếm một sức sống mới
Trong dòng chảy chuyển mình của kinh tế nông thôn, làng nghề Bắc Ninh đang tìm hướng đi mới để thích ứng với thị trường mà không đánh mất giá trị truyền thống. Đây không chỉ là bài toán sinh kế, mà còn là hành trình giữ gìn và tiếp nối bản sắc văn hóa Kinh Bắc.
Đối mặt với thách thức giữa dòng chảy hiện đại
Theo Báo Bắc Ninh, sự phát triển công nghiệp hóa và làn sóng chuyển đổi số đã tạo ra những tác động kép, vừa là động lực, vừa là áp lực đối với các làng nghề truyền thống. Hiện nay, toàn tỉnh có 87 làng nghề, làng nghề truyền thống và 7 nghề truyền thống. Tuy nhiên, một thực tế đáng suy ngẫm là có tới 60 làng nghề chưa đạt tiêu chí để được công nhận danh hiệu chính thức, chủ yếu do rào cản về vấn đề bảo vệ môi trường và hạ tầng sản xuất chưa đồng bộ.
Áp lực từ sản phẩm công nghiệp giá rẻ và nhu cầu tiêu dùng thay đổi nhanh chóng đã khiến nhiều nghề thủ công dần mất đi vị thế. Những ngành nghề vốn gắn bó lâu đời như làm cày bừa, nón lá hay một số làng nghề giấy dó, chẻ tăm lụa giờ đây chỉ còn duy trì bởi vài hộ gia đình. Giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một khi sự cạnh tranh trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, đặc biệt là khi các làng nghề chủ yếu hoạt động quy mô nhỏ, lẻ, thiếu định hướng chiến lược dài hạn.
Thách thức lớn nhất hiện nay chính là sự đứt gãy của lực lượng lao động kế cận. Tại Hợp tác xã Mây tre đan Ngọc Quyết, xã Tân Chi, dù đơn hàng xuất khẩu luôn dồi dào, ông Đặng Ngọc Quyết, Giám đốc Hợp tác xã, không khỏi trăn trở: “Sự phát triển mạnh mẽ của khu công nghiệp đã thu hút hầu hết lao động trẻ chuyển hướng sang làm công nhân vì thu nhập ổn định hơn. Hiện nay, đa số lao động gắn bó với nghề đều đã trung tuổi, khiến việc duy trì kỹ thuật tinh xảo trở nên vô cùng khó khăn”.
Cùng chung nỗi niềm đó, Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Đình Vinh, thôn Hoài Trung, xã Liên Bão, chia sẻ: “Nghề khảm trai cũng như các nghề truyền thống khác như mộc, đúc đồng đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ và thời gian học nghề dài. Lớp trẻ hiện nay chủ yếu chọn làm việc tại các khu công nghiệp hay cơ quan nhà nước để có thu nhập ổn định, khiến nghề truyền thống đối mặt với nguy cơ thiếu hụt người tiếp nối”.
Bên cạnh yếu tố con người, ô nhiễm môi trường vẫn là “điểm nghẽn” nhức nhối. Do sản xuất xen kẽ trong khu dân cư, vấn đề xử lý nước thải, khí thải và chất thải rắn ở nhiều làng nghề chưa được giải quyết triệt để. Ông Nguyễn Đình Thinh, Giám đốc Hợp tác xã Mộc Bãi Ổi, phường Bắc Giang, bày tỏ: “Các xưởng mộc hoạt động xen lẫn trong khu dân cư gây tiếng ồn, bụi bặm, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân. Chúng tôi khao khát được quy hoạch mặt bằng tập trung, nhưng lại thiếu quỹ đất và cơ chế hỗ trợ, khiến các hộ sản xuất không thể đầu tư bài bản hay ứng dụng máy móc hiện đại để nâng cao năng suất”.
Sự chênh lệch về thu nhập giữa làm nghề thủ công và làm công nhân, cùng với thiếu hụt quỹ đất sản xuất tập trung, đã vô hình trung tạo nên rào cản lớn. Nếu không có những thay đổi mang tính đột phá, các làng nghề Bắc Ninh rất khó để duy trì sức cạnh tranh trong môi trường kinh tế hiện đại.
Hướng đi bền vững cho các làng nghề truyền thống
Để tìm ra lối thoát và sức sống mới, nhiều hộ sản xuất, hợp tác xã tại Bắc Ninh đã chủ động thay đổi tư duy, mạnh dạn chuyển đổi phương thức sản xuất. Họ không còn trông chờ vào các sản phẩm truyền thống đơn thuần mà tích cực đầu tư công nghệ, cải thiện quy trình xử lý môi trường và xây dựng thương hiệu bài bản.
Điển hình như Hợp tác xã Sản xuất bún bánh Đa Mai (phường Đa Mai) đã chứng minh rằng công nghệ và môi trường có thể song hành bằng việc đầu tư hệ thống bể biogas và bể lọc công suất lớn để xử lý nước thải. Việc vận hành dây chuyền tự động hóa giúp cơ sở không chỉ tăng năng suất mà còn giải quyết được bài toán về môi trường, tạo niềm tin lớn với khách hàng. Ở một góc độ khác, các doanh nghiệp tại làng nghề gỗ mỹ nghệ cũng đã linh hoạt chuyển hướng sang sản xuất nội thất chung cư, đồ tâm linh, đồ trang trí xuất khẩu, thay vì chỉ tập trung vào các mặt hàng bàn ghế truyền thống như trước đây.
Chính quyền các cấp cũng đã và đang tích cực vào cuộc với những chiến lược cụ thể cho giai đoạn 2026-2030. Ông Bùi Quang Phát, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: “Tỉnh ưu tiên đầu tư hoàn thiện hạ tầng, phát triển du lịch làng nghề gắn với trải nghiệm văn hóa. Chúng tôi sẽ đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, đồng thời chú trọng công nhận danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi để truyền cảm hứng cho thế hệ kế cận”.
Đồng hành cùng mục tiêu đó, Sở Công Thương cũng đặt ra lộ trình rõ ràng để hỗ trợ làng nghề. Ông Nguyễn Thế Thi, Phó Giám đốc Sở Công Thương, khẳng định: “Sở tiếp tục tham mưu UBND tỉnh các chính sách hỗ trợ phát triển bền vững, trọng tâm là đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Chúng tôi sẽ hỗ trợ các cơ sở tham gia hội chợ, kết nối cung - cầu, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử và chuẩn hóa bao bì, nhãn hiệu theo tiêu chuẩn quốc tế. Mục tiêu là tạo ra những sản phẩm vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa giữ trọn bản sắc văn hóa địa phương”.
Khi truyền thống được kết hợp hài hòa với tư duy thị trường, công nghệ số và sự hỗ trợ thiết thực từ chính quyền, các làng nghề sẽ tìm thấy sức sống bền bỉ. Việc tạo ra các chính sách hỗ trợ đặc thù cho lao động làm nghề, quy hoạch khu sản xuất tập trung và khuyến khích đổi mới sáng tạo không chỉ giúp các nghệ nhân an tâm truyền nghề mà còn giúp lao động trẻ nhận ra giá trị kinh tế thực sự của nghề cha ông.
Giữ gìn làng nghề không chỉ là bảo tồn di sản mà còn là tạo sinh kế bền vững cho hàng ngàn người dân. Những câu chuyện về sự chuyển mình của Đa Mai, những nỗ lực tìm kiếm thương hiệu của các nghệ nhân khảm trai hay mộc dân dụng cho thấy, dù đối mặt với thách thức, nghề xưa Bắc Ninh hoàn toàn có thể vươn xa nếu biết cách thích ứng. Với nền tảng văn hóa vững chắc và hướng đi đổi mới sáng tạo, các làng nghề tại vùng đất Kinh Bắc đang sẵn sàng cho một chương mới đầy hứa hẹn trên thị trường trong nước và quốc tế.