Huy động 7.000 tỷ cùng hàng nghìn nhân công để 'hồi sinh' công trình đồ sộ, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa vật thể đầu tiên của Việt Nam

Đời sống 14/05/2026 10:13

Việc đầu tư trùng tu, tôn tạo quần thể kiến trúc công trình cổ thể hiện Huế đang từng bước quyết tâm gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Trong hành trình gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, Huế đang từng bước khẳng định quyết tâm bảo tồn quần thể kiến trúc cung đình triều Nguyễn bằng những dự án trùng tu quy mô lớn. Với nguồn lực đầu tư khoảng 7.000 tỷ đồng, nhiều công trình quan trọng thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế như Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Điện Kiến Trung, Văn Miếu Huế và Quốc Tử Giám Huế đã và đang được phục hồi diện mạo uy nghi vốn có.

Không chỉ là những công trình kiến trúc mang giá trị nghệ thuật đặc sắc, các di tích này còn lưu giữ dấu ấn lịch sử, văn hóa và tư tưởng của một thời kỳ vàng son của triều Nguyễn. Mỗi công trình đều mang một câu chuyện riêng về quyền lực, lễ nghi, giáo dục và đời sống cung đình, góp phần tạo nên bản sắc độc đáo cho vùng đất cố đô. 

Ngọ Môn

Ngọ Môn là cổng chính phía Nam của Hoàng thành Huế, được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833) trong quá trình quy hoạch lại toàn bộ kiến trúc kinh thành triều Nguyễn. Trước đó, vị trí này là Nam Khuyết Đài dưới thời Gia Long và được xem là “bộ mặt” của triều đình phong kiến Việt Nam.

cong-ngo-mon-ivivu_1778727851.jpg
 Ngọ Môn của Hoàng thành Huế. Ảnh: Internet

Ngọ Môn không chỉ là công trình kiến trúc tiêu biểu mà còn gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Đây từng là nơi vua ngự xem duyệt binh, tổ chức lễ Truyền lô, Ban sóc và tiếp đón sứ thần. Đặc biệt, năm 1945, vua Bảo Đại đã đọc chiếu thoái vị tại đây, đánh dấu sự kết thúc của chế độ phong kiến Việt Nam.

Công trình gồm hai phần chính: Nền đài và lầu Ngũ Phụng. Nền đài hình chữ U, cao gần 5m, có 5 lối đi phân chia theo cấp bậc nghi lễ triều đình; cửa chính giữa chỉ dành riêng cho vua. Phía trên là lầu Ngũ Phụng gồm hai tầng mái với hệ khung gỗ lim gồm 100 cột lớn, được trang trí tinh xảo bằng nhiều họa tiết cung đình. Mái chính giữa lợp ngói hoàng lưu ly dành cho vua, các phần còn lại lợp ngói thanh lưu ly tạo nên vẻ uy nghi, hài hòa và mềm mại.

Hiện nay, Ngọ Môn là biểu tượng nổi bật của cố đô Huế, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu lịch sử và kiến trúc triều Nguyễn.

Điện Thái Hoà

Điện Thái Hòa là công trình quan trọng bậc nhất trong quần thể Hoàng thành Huế và được xem là biểu tượng quyền lực của triều Nguyễn. Tên gọi “Thái Hòa” mang ý nghĩa triết học sâu sắc: “Thái” là lớn lao, rộng lớn; “Hòa” là sự hài hòa giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên và trời đất.

Theo quan niệm phương Đông, khi đạt đến trạng thái “trung hòa”, xã hội sẽ thái bình, đất nước thịnh vượng và vạn vật phát triển. Vì vậy, điện Thái Hòa không chỉ là nơi thiết triều mà còn thể hiện khát vọng về một triều đại hưng thịnh, yên bình của các vua Nguyễn.

visithue-dien-thai-hoa_1778727851.jpg
Điện Thái Hoà được xây dựng vào năm 1805 dưới thời vua Gia Long. Ảnh: Internet

Điện được khởi công xây dựng vào năm 1805 dưới thời vua Gia Long và hoàn thành cùng năm. Công trình nổi bật với kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc” đặc trưng của cung đình Huế, gồm hai lớp mái chồng lên nhau trên cùng một nền. Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly vàng rực, biểu tượng cho hoàng quyền.

Bên trong điện có 80 cột gỗ lim lớn được sơn son thếp vàng, chạm khắc hình rồng mây tinh xảo. Các ô hộc, liên ba và dải cổ diêm được trang trí theo motif “nhất thi nhất họa”, kết hợp thơ chữ Hán và họa tiết nghệ thuật cung đình, tạo nên vẻ uy nghi nhưng vẫn thanh nhã. Chính giữa điện là ngai vàng của vua, phía trên có bửu tán chạm nổi 9 con rồng thếp vàng tượng trưng cho quyền lực tối cao.

Phía trước điện là sân Đại Triều Nghi, nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng của triều đình. Đây là nơi các quan văn võ đứng chầu trong các buổi Đại triều được tổ chức vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Sân được chia thành nhiều cấp bậc theo thứ phẩm quan lại, thể hiện rõ tính nghi lễ và trật tự phong kiến thời Nguyễn. Ngoài các kỳ thiết triều, điện Thái Hòa còn là nơi diễn ra những sự kiện trọng đại như lễ đăng quang, lễ mừng thọ vua hay các nghi thức ngoại giao quan trọng.

Trải qua hơn hai thế kỷ, điện Thái Hòa đã nhiều lần được trùng tu, đáng chú ý nhất là đợt đại tu năm 1833 dưới thời vua Minh Mạng và lần sửa chữa lớn năm 1923 thời vua Khải Định. Ngày nay, điện Thái Hòa vẫn giữ vị thế là công trình tiêu biểu nhất của kiến trúc cung đình Huế, nổi bật cả về giá trị lịch sử, nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa dân tộc.

Điện Kiến Trung

dien-kien-trung-09-1708676112_1778727851.jpg
Điện Kiến Trung là một trong những công trình lộng lẫy nhất triều Nguyễn. Ảnh: Internet

Điện Kiến Trung là một trong những công trình đặc sắc và lộng lẫy bậc nhất của triều Nguyễn còn được phục dựng trong khu vực Tử Cấm thành Huế. Công trình được khởi công xây dựng vào năm 1921 dưới thời vua Khải Định và từng là nơi sinh hoạt, làm việc của hai vị vua cuối cùng triều Nguyễn là Khải Định và Bảo Đại. Không chỉ mang giá trị lịch sử đặc biệt, điện Kiến Trung còn được xem là biểu tượng cho sự giao thoa độc đáo giữa kiến trúc Á Đông truyền thống và phong cách châu Âu đầu thế kỷ XX.

Khu đất xây dựng điện Kiến Trung từng là nơi tọa lạc của lầu Minh Viễn được vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1827. Đến thời vua Duy Tân, nơi đây tiếp tục xuất hiện lầu Du Cửu trước khi được mở rộng thành điện Kiến Trung dưới thời Khải Định.

Năm 1932, vua Bảo Đại tiến hành cải tạo nội thất, đưa vào nhiều tiện nghi hiện đại phương Tây như hệ thống phòng tắm và các thiết bị sinh hoạt cao cấp, biến nơi đây trở thành cung điện hiện đại bậc nhất trong Hoàng cung Huế thời bấy giờ. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, điện Kiến Trung cũng là nơi diễn ra cuộc gặp giữa vua Bảo Đại và phái đoàn Chính phủ lâm thời để bàn việc thoái vị. 

Tuy nhiên, chiến tranh đã khiến công trình gần như bị phá hủy hoàn toàn vào năm 1947, chỉ còn lại phần nền móng. Sau nhiều năm nghiên cứu, phục dựng và bảo tồn, điện Kiến Trung đã được hồi sinh sau gần 5 năm trùng tu.

Văn Miếu 

huetourism-ghe-tham-van-mieu-hue--noi-ton-tho-duc-khong-tu.html-4_1778727851.jpg
Văn Miếu Huế gắn liền với truyền thống hiếu học và nền Nho giáo Việt Nam. Ảnh: Internet

Văn Miếu Huế nằm bên dòng sông Hương thơ mộng, thuộc vùng Kim Long cổ kính của cố đô Huế. Đây là một công trình tiêu biểu của triều Nguyễn, gắn liền với truyền thống hiếu học và nền Nho giáo Việt Nam. Văn Miếu được khởi công xây dựng vào năm 1808 dưới thời vua Gia Long, sau khi được dời từ vị trí cũ ở làng Triều Sơn về xã Long Hồ. Văn miếu cũ được giữ lại để làm Khải Thánh Từ, nơi thờ cha mẹ Khổng Tử.

Công trình tọa lạc ở vị trí phong thủy đẹp, quay mặt về hướng Nam, phía trước là sông Hương êm đềm, xung quanh là cảnh quan núi đồi xanh mát, tạo nên không gian vừa trang nghiêm vừa thơ mộng. Từ cổng Đại Thành Môn bước vào là khu trung tâm với Đại Thành Điện - nơi thờ đức Khổng Tử, được xây dựng theo kiến trúc cung đình Huế với lối “trùng thiềm điệp ốc” đặc trưng. Hai bên Đại Thành Điện là Đông Vu và Tây Vu bố trí đối xứng, tạo nên bố cục hài hòa và cân đối.

Một trong những giá trị quan trọng nhất của Văn Miếu Huế là hệ thống bia tiến sĩ triều Nguyễn. Hiện di tích còn lưu giữ 32 tấm bia, khắc tên 293 vị tiến sĩ đỗ đạt trong 39 khoa thi Hội và thi Đình dưới triều Nguyễn. Đây là minh chứng rõ nét cho truyền thống trọng dụng nhân tài và nền giáo dục Nho học phát triển thời phong kiến. Ngoài ra, khu vực còn có các nhà bia do vua Minh Mạng và vua Thiệu Trị đề văn, thể hiện sự coi trọng đạo học của triều đình.

Trước cổng Văn Miếu là Linh Tinh Môn với các trụ gạch lớn trang trí pháp lam và những dòng chữ Hán mang ý nghĩa tôn vinh đạo lý, học vấn. Trải qua nhiều biến động lịch sử, Văn Miếu Huế vẫn giữ được nét cổ kính và giá trị văn hóa đặc biệt, trở thành điểm đến giàu ý nghĩa cho du khách tìm hiểu về truyền thống hiếu học và lịch sử cố đô.

Quốc Tử Giám

Quốc Tử Giám Huế là một trong những biểu tượng quan trọng của truyền thống giáo dục Nho học tại Việt Nam, gắn liền với triều Nguyễn. Công trình được khởi dựng từ thời vua Gia Long với tên gọi ban đầu là Đốc Học Đường tại An Ninh Thượng. Đến năm 1908, dưới thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được di dời và xây dựng lại tại số 1 đường 23/8 trong kinh thành Huế, trở thành trung tâm đào tạo và giáo dục quan trọng của triều đình.

huetourism-quoc-tu-giam-o-hue-hoi-sinh-mot-di-san-giao-duc-trieu-nguyen-1_1778728035.jpg
Quốc Tử Giám là trung tâm đào tạo và giáo dục quan trọng của triều đình. Ảnh: Internet

Sau năm 1975, nơi đây từng được sử dụng làm Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên Huế, lưu giữ hàng chục nghìn hiện vật có giá trị lịch sử. Tuy nhiên, để phục vụ công tác bảo tồn di tích, các hiện vật đã được di dời về cơ sở mới, tạo điều kiện để khuôn viên Quốc Tử Giám được trùng tu và phát huy giá trị nguyên bản. Hiện nay, tỉnh Thừa Thiên Huế đã phê duyệt dự án bảo tồn, tôn tạo với kinh phí khoảng 108 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào năm 2028.

Trung tâm kiến trúc của Quốc Tử Giám là Di Luân Đường, được xây dựng năm 1821 dưới thời vua Minh Mạng. Đây là công trình gỗ hai tầng mang giá trị kiến trúc đặc trưng, từng được sử dụng để trưng bày nhiều hiện vật quý, trong đó có bảo vật quốc gia. Bên cạnh đó là tấm bia Huỳnh Tự Thư Thanh, ghi lại bài thơ của vua Thiệu Trị ca ngợi cảnh đẹp và giá trị học thuật của trường Giám.

Hai bên Di Luân Đường là hệ thống dãy nhà học và cư xá dành cho giám sinh, từng được sử dụng cho nhiều mục đích trưng bày qua các thời kỳ. Tuy nhiên, một số hạng mục đã xuống cấp nghiêm trọng, thậm chí bị hư hại do hỏa hoạn năm 2022. Hiện công trình đang trong tình trạng cần tu bổ khẩn cấp để đảm bảo an toàn và bảo tồn giá trị di sản.

Quốc Tử Giám Huế không chỉ là dấu tích của nền giáo dục phong kiến mà còn là minh chứng cho truyền thống hiếu học lâu đời, mang giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt của vùng đất cố đô.

Quần thể Di tích Cố đô Huế là một trong những công trình kiến trúc cung đình tiêu biểu và đồ sộ của Việt Nam. Đây là di sản văn hóa đặc biệt, ghi dấu nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào năm 1993.

Kể từ khi được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa vật thể đầu tiên của Việt Nam, Quần thể Di tích Cố đô Huế đã trải qua hai giai đoạn quy hoạch, gồm giai đoạn 1996 - 2010 và 2010 - 2020. Đến nay, hàng trăm công trình di tích đã được bảo quản, tu bổ và phục hồi, trong đó có nhiều công trình quy mô lớn, mang giá trị tiêu biểu cả về lịch sử lẫn nghệ thuật. Bên cạnh đó, các di sản văn hóa phi vật thể cũng được chú trọng nghiên cứu, bảo tồn bài bản và phát huy hiệu quả.

Vân Phong