Hải quan khu vực II tăng cường phân tích dữ liệu, chủ động phát hiện rủi ro buôn lậu

Thương hiệu • 16/10/2026 10:30

Trong bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển, khai thác dữ liệu và ứng dụng công nghệ số đang trở thành giải pháp quan trọng giúp lực lượng hải quan nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa. Tại Chi cục Hải quan khu vực II, việc kết hợp thông tin khai báo, lịch sử tuân thủ và hình ảnh soi chiếu góp phần nhận diện sớm dấu hiệu bất thường, tập trung nguồn lực vào các lô hàng có nguy cơ vi phạm.

Ứng dụng dữ liệu trong kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu

Trước yêu cầu quản lý ngày càng cao đối với hoạt động xuất nhập khẩu, việc đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Thay vì chỉ dựa vào kiểm tra trực tiếp, cơ quan hải quan đang đẩy mạnh khai thác thông tin từ các hệ thống nghiệp vụ để đánh giá rủi ro, xác định đối tượng cần kiểm soát và nâng cao tính chủ động trong phát hiện vi phạm.

sfsa_1792466756.jpg
Hải quan khu vực II tăng cường phân tích dữ liệu, chủ động phát hiện rủi ro buôn lậu

Tại Chi cục Hải quan khu vực II, hiệu quả của phương thức quản lý này được thể hiện qua kết quả soi chiếu hàng hóa. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đơn vị đã soi chiếu tổng cộng 9.374 container, xác định 211 container có dấu hiệu nghi vấn và phát hiện vi phạm tại 12 container.

Kết quả trên phản ánh vai trò của việc kết hợp công nghệ với phân tích nghiệp vụ. Hình ảnh từ máy soi cung cấp thông tin trực quan về hàng hóa, trong khi dữ liệu khai báo, đặc điểm lô hàng, tuyến vận chuyển và lịch sử chấp hành pháp luật giúp công chức hải quan có thêm căn cứ đánh giá mức độ bất thường, từ đó lựa chọn phương án kiểm tra phù hợp.

Theo thông tin từ Chi cục Hải quan khu vực II, đơn vị đang khai thác nhiều hệ thống phục vụ quản lý và giám sát, gồm hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, hệ thống quản lý rủi ro CRMS cùng các chương trình nghiệp vụ liên quan. Dữ liệu còn được bổ sung từ hệ thống quản lý container, seal điện tử, camera, máy soi container, máy soi hành lý và các nền tảng trao đổi thông tin với bộ, ngành, lực lượng chức năng theo quy định.

Việc kết nối các nguồn thông tin cho phép cơ quan hải quan từng bước xây dựng hồ sơ rủi ro đối với doanh nghiệp, mặt hàng, tuyến đường và phương thức vận chuyển. Những biến động về kim ngạch, tần suất vi phạm, lịch sử khai báo hay đặc điểm hàng hóa được xem xét trong mối liên hệ với các chỉ số nghiệp vụ để nhận diện những trường hợp cần lưu ý.

Đáng chú ý, lịch sử tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp là căn cứ quan trọng trong quá trình đánh giá rủi ro. Khi thông tin về doanh nghiệp được đối chiếu với dữ liệu của từng lô hàng, cơ quan hải quan có điều kiện phát hiện những điểm chưa phù hợp giữa nội dung khai báo và các dấu hiệu thực tế, qua đó áp dụng biện pháp quản lý hoặc đưa vào diện kiểm tra sau thông quan khi cần thiết.

Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số trong phân tích dữ liệu lớn, nhận diện xu hướng và cảnh báo lô hàng có nguy cơ cao tiếp tục mở ra khả năng nâng cao chất lượng kiểm soát. Tuy nhiên, công nghệ không thay thế hoàn toàn vai trò của cán bộ nghiệp vụ. Độ chính xác của dữ liệu đầu vào, năng lực phân tích và kỹ năng sử dụng hệ thống vẫn là những yếu tố quyết định hiệu quả triển khai.

Tăng cường giám sát, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu

Cùng với việc lựa chọn đối tượng kiểm tra, ứng dụng công nghệ còn góp phần nâng cao khả năng giám sát hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu giữ tại khu vực chịu sự giám sát hải quan. Các hệ thống camera, công cụ giám sát điện tử, seal định vị trong những trường hợp áp dụng và nguồn thông tin trực tuyến hỗ trợ theo dõi hành trình phương tiện, hàng hóa, đồng thời ghi nhận những dấu hiệu khác thường.

Theo Đội Kiểm soát hải quan, seal định vị điện tử có thể phát cảnh báo khi phương tiện di chuyển sai lộ trình hoặc xuất hiện dấu hiệu tác động vào seal. Tại cảng, hệ thống giám sát trực tuyến hỗ trợ theo dõi hoạt động thực tế, cung cấp thông tin phục vụ công tác kiểm tra và giám sát nội bộ.

Việc tăng cường giám sát bằng công nghệ có ý nghĩa thiết thực trong điều kiện khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn lớn. 

Theo Chi cục Hải quan khu vực II, tính đến ngày 30/9/2026, đơn vị đã phát hiện, xử lý 5.191 vụ vi phạm, với trị giá hàng hóa vi phạm hơn 6.491 tỷ đồng. Qua xử lý, số tiền thu nộp ngân sách nhà nước đạt hơn 306,4 tỷ đồng, gồm hơn 74,4 tỷ đồng tiền xử phạt vi phạm hành chính và hơn 231,9 tỷ đồng tiền ấn định thuế. Cơ quan hải quan đã chuyển khởi tố 3 vụ và chuyển nguồn tin, kiến nghị khởi tố 32 vụ.

Riêng quý III/2026, Chi cục phát hiện, xử lý 1.882 vụ vi phạm, trị giá hàng hóa vi phạm hơn 2.178 tỷ đồng; số tiền thu nộp ngân sách nhà nước đạt hơn 157,1 tỷ đồng

Quy mô giao dịch lớn đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm kiểm soát, vừa không làm chậm dòng lưu chuyển hàng hóa hợp pháp. Thay vì tăng kiểm tra đồng loạt, việc sàng lọc trên cơ sở thông tin và tập trung nguồn lực vào nhóm có mức độ cảnh báo cao giúp nâng hiệu suất quản lý, đồng thời hạn chế tác động không cần thiết tới doanh nghiệp tuân thủ tốt. Bởi vậy, phân tích dữ liệu để xác định nhóm đối tượng có nguy cơ cao được xem là hướng tiếp cận cần thiết. Khi nguồn lực được tập trung vào những trường hợp có dấu hiệu bất thường, cơ quan hải quan có thể nâng cao hiệu suất kiểm tra, đồng thời hạn chế những tác động không cần thiết đối với doanh nghiệp chấp hành tốt quy định pháp luật.

Có thể nói, quá trình chuyển đổi số thời gian qua đã góp phần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, tăng khả năng theo dõi liên tục và sử dụng nhân lực hiệu quả hơn. Giá trị của công nghệ vì thế không nằm ở số lượng hệ thống được triển khai, mà ở khả năng kết nối thông tin và chuyển các nguồn dữ liệu rời rạc thành căn cứ phục vụ quyết định nghiệp vụ.

Ở góc độ doanh nghiệp, chất lượng thông tin khai báo và mức độ tuân thủ pháp luật ngày càng có ý nghĩa trong quá trình quản lý rủi ro. Việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, bảo đảm tính nhất quán của thông tin và thực hiện đúng quy định không chỉ phục vụ thủ tục của từng lô hàng mà còn góp phần xây dựng lịch sử tuân thủ, tạo cơ sở để cơ quan hải quan đánh giá mức độ rủi ro trong quá trình quản lý.

Trong thời gian tới, việc tiếp tục khai thác hiệu quả dữ liệu, hoàn thiện phương thức giám sát và nâng cao năng lực phân tích nghiệp vụ sẽ là những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Chi cục Hải quan khu vực II.

Đây cũng là hướng đi góp phần hiện đại hóa hoạt động hải quan, hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước với mục tiêu tạo thuận lợi cho thương mại. Khi dữ liệu được sử dụng hiệu quả, cơ quan chức năng có thêm công cụ để chủ động phát hiện rủi ro, bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh và hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Bích Hà