Vị vua Việt chỉ lên ngôi 3 ngày đã bị phế truất: Qua đời vì bị bỏ đói, được thờ trong lăng tẩm đặc biệt
Vị vua này lên ngôi khi 32 tuổi và bị phế truất khi chưa kịp đặt niên hiệu.
Trong triều Nguyễn, vua Dục Đức là một trường hợp đặc biệt khi chỉ trị vì vỏn vẹn 3 ngày đã bị phế truất. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Chân (SN 1852), là con thứ 2 của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga.
Năm 2 tuổi, ông được vua Tự Đức nhận làm con nuôi, cho xây Dục Đức Đường trong kinh thành để ở. Ông lấy con gái của đại thần Phan Đình Bình; đến năm 1879, sinh ra Bửu Lân tức vua Thành Thái sau này.
Năm 1883, vua Tự Đức lâm trong bệnh, ra di chiếu truyền ngôi cho Dục Đức. Khi vua Tự Đức qua đời, Dục Đức lên ngôi, khi ấy 32 tuổi và trở thành vị vua thứ 5 của triều Nguyễn. Tuy nhiên, chỉ sau 3 ngày thì bị phế (23/7/1883). Thời điểm ấy, ông chưa kịp đặt niên hiệu.
Tên gọi vua Dục Đức bắt nguồn từ việc sau khi bị phế truất, ông bị giam lỏng ở Dục Đức Đường. Sau đó, ông tiếp tục bị quản thúc tại Thái Y Viện, giam vào ngục và bỏ đói suốt 7 ngày.
Đến 6/10/1883, Dục Đức qua đời, để lại 8 bà vợ, 11 người con trai và 8 người con gái. Mộ chôn tạm tại khe cồn Phước Quả, gần chùa Tường Quang.
Sau nhiều biến động của lịch sử, các thông tin về vị vua trị vì ngắn nhất triều Nguyễn cũng nhận được sự quan tâm. Theo đó, năm 1889, Nguyễn Phúc Bửu Lân - con trai của vua Dục Đức lên ngôi, lấy niên hiệu Thành Thái. Ông cho xây dựng lăng mộ cha - vua Dục Đức một cách trang trọng và đặt tên là An Lăng. Gần khu lăng, cách khoảng 200m có chùa Tường Quang làm nơi thờ tự.
Đến năm 1891, triều đình tiếp tục thiết lập các công trình tưởng niệm, xây dựng một ngôi miếu tại phường Thuận Cát, phía bên phải Hoàng thành để thờ vua Dục Đức. Ban đầu, miếu có tên Tân Miếu, đến năm 1897 thì đổi thành Cung Tôn Miếu.
Năm 1892, Từ Minh Hoàng Thái Hậu - thân mẫu của vua Thành Thái, đã cho đúc tượng Phật và mở rộng khu tăng xá của chùa Tường Quang. Một năm sau, nhà vua đổi tên chùa thành Kim Quang và ban tấm hoành phi đề “Sắc Tứ Kim Quang Tự”.
Đến tháng 7 năm Thành Thái thứ 11 (tức tháng 8/1899), điện Long Ân được xây dựng gần khu lăng để làm nơi thờ vua Dục Đức. Trong khuôn viên còn có các công trình phụ như Tả, Hữu phối đường và Tả Hữu tòng viện, dành cho 7 bà vợ thứ của vua Dục Đức sinh sống và chăm lo hương khói.
Năm 1906, khi Từ Minh Hoàng Thái Hậu qua đời, triều đình đã quy hoạch lại toàn bộ khu lăng, tạo thành một khu lăng kép theo kiểu “song táng”, “càn khôn hiệp đức”, đặt mộ bà bên cạnh mộ vua Dục Đức, tương tự cách bố trí tại lăng Gia Long.
Về sau, khu lăng này tiếp tục là nơi an táng của vua Thành Thái và vua Duy Tân. Như vậy, An Lăng là lăng mộ đặc biệt trong hệ thống lăng tẩm triều Nguyễn khi là nơi yên nghỉ của ba thế hệ vua: cha, con và cháu.
An Lăng có diện tích hơn 56.000m2 với khoảng 20 công trình lớn nhỏ, được chia thành 2 khu riêng biệt là khu lăng và khu tẩm, cách nhau hơn 50m và đều có tường thành bao bọc. Toàn bộ khu lăng quay về hướng Tây Bắc, phía trước có cồn Phước Quả làm tiền án, dòng khe chảy ngang đóng vai trò minh đường, núi Tam Thai phía sau làm hậu chẩm, tạo nên thế phong thủy hài hòa.
Khu lăng mộ có diện tích khoảng 3.445m2, bước qua một cổng tam quan xây bằng gạch và có mái giả. Phía sau là sân Bái đình, không có tượng đá như nhiều lăng khác mà chỉ trang trí bằng lan can xây bằng vôi gạch.
Trung tâm khu lăng là ngôi nhà Huỳnh Ốc, dựng trên nền vuông mỗi cạnh 8m, kiến trúc dạng phương đình, mái lợp ngói hoàng lưu ly, trang trí rồng phượng trên bờ nóc, nhưng nội thất khá giản dị.
Khu tẩm điện rộng khoảng 6.245m2, nổi bật với điện Long Ân - công trình chính được xây dựng theo kiểu cung điện truyền thống Huế. Tòa điện gồm hai phần với kết cấu gỗ tinh xảo theo lối “chồng rường giả thủ”, các chi tiết chạm khắc hổ phù được thực hiện công phu, thể hiện giá trị nghệ thuật cao trong kiến trúc cung đình Nguyễn.
Dù không có quy mô đồ sộ như lăng Gia Long hay sự uy nghi như lăng Minh Mạng, An Lăng vẫn mang một vẻ đẹp riêng biệt. Công trình này có kiến trúc giản dị, khiêm tốn phản ánh giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Trải qua nhiều biến cố của thời gian, đến năm 2018, lăng vua Dục Đức được tiến hành trùng tu, phục hồi. Sau 5 năm thực hiện với tổng kinh phí khoảng 40 tỷ đồng, công trình đã hoàn thành vào tháng 8/2024. Từ ngày 1/1/2025, An Lăng mở cửa đón du khách trong và ngoài nước đến tham quan.