Vị vua có 103 người vợ nhưng không có con ruột, nhận 3 người cháu làm con nuôi, huy động hàng vạn binh lính và phu phen xây dựng lăng tẩm trong gần 40 năm

Đời sống 19/04/2026 19:58

Đây là vị vua trị vì lâu nhất triều Nguyễn, nổi tiếng tài hoa, yêu thích thơ văn, nghệ thuật, giỏi chữ nghĩa.

Vị vua nổi tiếng của triều Nguyễn

Vua Tự Đức tên thật là Nguyễn Phúc Thì (tự Hồng Nhậm), sinh ngày 25/8 năm Kỷ Sửu (1829), là vị hoàng đế thứ 4 của triều Nguyễn. Ông là con của vua Thiệu Trị và Hoàng quý phi Phạm Thị Hằng (sau được tôn là Từ Dụ Thái hậu). Năm 1847, khi mới 19 tuổi, ông lên ngôi sau khi vua Thiệu Trị băng hà.

Theo sử liệu và ghi chép của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Tự Đức là vị vua trị vì lâu nhất triều Nguyễn, với thời gian 36 năm (1847-1883). Trong thời gian trị vì, ông là người tài hoa, yêu thích thơ văn, nghệ thuật, giỏi chữ nghĩa.

vuatuduc6_1776603321.jpg
Chân dung vua Tự Đức. Ảnh: Internet.

Ngoài ra, vua Tự Đức còn nổi tiếng bởi đời tư khi có tới 103 phi tần nhưng không có con ruột. Nguyên nhân được cho là do ông từng mắc bệnh đậu mùa từ nhỏ, sức khỏe yếu và thể trạng không tốt.

Vì vậy, nhà vua đã nhận con nuôi để kế vị, gồm 3 người cháu ruột là Nguyễn Phúc Ưng Ái (tức vua Dục Đức), Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (tức vua Đồng Khánh) và Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đăng (tức vua Kiến Phúc). Khi vua Tự Đức qua đời, Ưng Ái được đưa lên ngôi, tức vua Dục Đức.

Xây dựng lăng tẩm suốt hàng chục năm

Ngoài đời tư, vua Tự Đức còn để lại dấu ấn đậm nét qua các công trình kiến trúc gắn liền với tên tuổi của ông. Tiêu biểu nhất là Khiêm Lăng (còn gọi là lăng Tự Đức) - nơi an nghỉ cuối cùng của vị vua này.

Lăng Tự Đức còn gọi là Khiêm Lăng, là một trong những công trình lăng tẩm tiêu biểu, giàu giá trị nghệ thuật, kiến trúc bậc nhất triều Nguyễn. Sau khi lên ngôi được 16 năm, vua Tự Đức cho khởi công xây dựng lặng tại vùng đất được coi là “vạn niên cát địa” thuộc làng Dương Xuân Thượng (nay thuộc Thủy Xuân, thành phố Huế), cách trung tâm thành phố khoảng 6km. Đây là khu vực có địa thế đẹp, thung lũng bao quanh bởi núi đồi và thiên nhiên thơ mộng, rất phù hợp với quan niệm phong thủy thời bấy giờ.

vuatuduc2_1776603320.jpg
Lăng vua Tự Đức là công trình tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc nhà Nguyễn. Ảnh: Internet.

Toàn bộ quần thể Khiêm Lăng có diện tích quy hoạch rất rộng, khoảng hơn 440 mẫu (tương đương 220ha), trải dài từ đồi Vọng Cảnh đến núi Lao Khiêm Sơn. Tuy nhiên, khu vực trung tâm nội lăng chỉ chiếm khoảng 27 mẫu (13,5ha), được bao bọc bởi tường đá dài gần 1.823m.

Ban đầu, công trình được gọi là Vạn Niên Cơ với mong muốn trường tồn vĩnh cửu. Theo Trung tâm bảo tồn di sản Huế, lăng được khởi công xây dựng lăng vào năm 1864 với 5 vạn binh lính tham gia và dự định hoàn tất trong vòng 6 năm. Tuy nhiên, các quan vì muốn lập công nên đã cưỡng bức lính một cách cực lực. Vì thế, chỉ sau 2 năm khởi công đã làm nổi lên "Loạn chày vôi". Sau sự kiện này, vua Tự Đức cách chức hai vị quan trông coi việc xây dựng, đồng thời đổi tên thành Khiêm Cung, sau khi vua mất thì gọi là Khiêm Lăng.

vuatuduc4_1776603320.jpg
vuatuduc1_1776603320.jpg
vuatuduc3_1776603320.jpg
Công trình này được hoàn thiện trong suốt hàng chục năm. Ảnh: Internet.

Về tổng thể kiến trúc, Khiêm Lăng gồm gần 50 công trình lớn nhỏ, bố trí hài hòa giữa tẩm điện và khu lăng mộ, theo hai trục song song gắn với cảnh quan tự nhiên. Phía trước là núi Giáng Khiêm, phía sau là núi Dương Xuân, ở giữa là hồ Lưu Khiêm, tạo nên không gian sơn thủy hữu tình đặc trưng. Nhiều công trình trong quần thể mang chữ “Khiêm”, thể hiện rõ triết lý sống khiêm nhường của vị vua này. Khiêm Cung Môn là cổng chính dẫn vào khu vực trung tâm, được xây dạng vọng lâu hai tầng, mở ra không gian hướng thẳng ra hồ, vừa uy nghi vừa thơ mộng.

Trong quần thể lăng, điện Hòa Khiêm từng là nơi làm việc của vua Tự Đức, nay trở thành không gian thờ tự vua và hoàng hậu. Nơi đây còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn với đời sống cung đình như đồ dùng sinh hoạt, đồ chơi và vật phẩm nghệ thuật.

Bên cạnh đó, Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ nằm ven hồ Lưu Khiêm là nơi vua từng ngâm thơ, thưởng hoa và đọc sách; hiện nay cũng được sử dụng để tổ chức biểu diễn ca Huế phục vụ du khách.

Theo Báo Ảnh Việt Nam (thuộc Thông tấn xã Việt Nam), việc xây dựng Khiêm Lăng kéo dài qua nhiều giai đoạn. Mặc dù có nhiều thông tin công trình hoàn tất vào năm 1873 nhưng trên thực tế phải tới năm 1902 mới hoàn chỉnh và chấm dứt việc xây dựng. Vì thế tổng thời gian xây Khiêm Lăng kéo dài tới 38 năm.

vuatuduc7_1776603321.jpg
Vào năm 2015, bia Khiêm Cung Ký đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. Ảnh: Internet.
vuatuduc5_1776603321.jpg
Khiêm Lăng có cảnh quan thơ mộng, trữ tình. Ảnh: Internet.

Khu vực lăng mộ chính của vua được xây dựng bằng đá thanh chạm khắc tinh xảo, bao quanh bởi hệ thống bửu thành vững chắc. Trước khu mộ là nhà bia và Bi Đình, nơi đặt tấm bia đá nặng khoảng 20 tấn khắc tác phẩm “Khiêm Cung Ký” do chính vua Tự Đức soạn năm 1871. Đây là một bản tự thuật dài gần 5.000 chữ, phản ánh cuộc đời, sự nghiệp và những suy ngẫm của ông trước lịch sử. Giá trị đặc biệt của tấm bia này đã được công nhận là Bảo vật quốc gia vào năm 2015.

Với thiết kế có vườn cảnh, hồ nước cùng nhiều công trình phục vụ nhu cầu ăn, ở, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí, quần thể lăng Tự Đức tạo nên một tổng thể vừa mang tính cung đình vừa gần gũi với thiên nhiên. Không gian nơi đây toát lên vẻ đẹp vừa lộng lẫy, vừa trữ tình và giàu chất thơ, khiến công trình trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách khi đến Huế.

Nhờ sự kết hợp tinh tế giữa kiến trúc và cảnh quan, Khiêm Lăng được xem là một trong những kiệt tác tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc cung đình triều Nguyễn. Công trình này cũng được xem như một dạng “vườn thượng uyển” thu nhỏ của triều Nguyễn, nơi hội tụ đầy đủ yếu tố thẩm mỹ, phong thủy và tư tưởng sống của một vị vua thi sĩ.

Bài viết có tham khảo thông tin tại:

Những điều trái ngược thú vị về vua Tự Đức - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Khiêm Lăng - vẻ lãng mạn của lăng mộ hoàng gia xứ Huế - Báo Ảnh Việt Nam (thuộc Thông tấn xã Việt Nam)

Hành cung ‘tiêu sầu’ của vua Tự Đức - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

 

Linh Chi