Nhà thơ nổi tiếng Việt Nam giữ chức Bộ trưởng khi mới 26 tuổi, là người ký quyết định thành lập Học viện An ninh Nhân dân
Ông được đánh giá là một trong những đại diện tiêu biểu nhất, “kiện tướng” của Phong trào Thơ mới (1932-1945).
Nhà thơ Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam. Không chỉ thành công trong phong trào Thơ Mới, Huy Cận còn có đóng góp to lớn cho thơ ca cách mạng.
Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận, sinh năm 1919 tại Hà Tĩnh, trong một gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Những năm đầu, ông học ở quê, sau đó vào Huế học trung học và đỗ tú tài Pháp. Năm 1939, ông ra Hà Nội theo học Trường Cao đẳng Canh nông. Theo nhiều sử liệu, Huy Cận biết làm thơ từ năm 14 tuổi. Đến năm 16 tuổi, ông đã có thơ được đăng trên báo. Thời gian học ở Hà Nội cũng là giai đoạn ông sáng tác thơ ca và nhanh chóng để lại dấu ấn sâu sắc trong văn chương đương thời.
Năm 1940, Huy Cận xuất bản tập thơ nổi tiếng “Lửa thiêng” và tạo tiếng vang lớn, đưa ông trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới (1932-1945). Nhiều người nhận xét Huy Cận là một trong những đại diện tiêu biểu nhất, “kiện tướng” của phong trào thơ này.
Không chỉ hoạt động văn học, Huy Cận còn tích cực tham gia cách mạng. Năm 1942, ông tham gia Mặt trận Việt Minh và được giao nhiệm vụ vận động trí thức và thanh niên ở Hà Nội. Cuối tháng 7/1945, ông tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc, sau này trở thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám, Huy Cận giữ nhiều trọng trách quan trọng trong bộ máy nhà nước. Năm 26 tuổi, ông đảm nhiệm chức Bộ trưởng Canh nông. Sau đó, ông tiếp tục giữ nhiều vị trí như Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Kinh tế, Bộ Văn hóa; Thứ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Chính phủ và Bộ trưởng Đặc trách công tác văn hóa - thông tin tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng. Năm 1946, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông ký nghị định thành lập trường Huấn luyện Công an, tiền thân của Học viện An ninh Nhân dân ngày nay.
Ngoài ra, Huy Cận còn được giao nhiều nhiệm vụ liên quan đến ngành công an và thanh tra đặc biệt. Với tư cách thành viên Chính phủ, ông từng đại diện ngành công an trả lời chất vấn tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I. Nhà thơ Huy Cận cũng là một trong ba thành viên của phái đoàn Chính phủ lâm thời vào kinh đô Huế để tham dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại.
Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Huy Cận vẫn không ngừng sáng tác. Ông để lại nhiều tác phẩm xuất sắc như “Lửa thiêng” (1940), “Kinh cầu tự” (1942), “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958), “Đất nở hoa” (1960), “Bài thơ cuộc đời” (1963), “Chiến trường gần, chiến trường xa” (1973), “Hạt lại gieo” (1984), “Ta về với biển” (1997) và “Cha ông nghìn thuở” (2002).
Từ năm 1984, Huy Cận giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Năm 2001, ông là nhà thơ Việt Nam đầu tiên được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm Thơ thế giới.
Với những đóng góp to lớn cho văn học nghệ thuật và sự nghiệp cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.
Năm 2005, nhà thơ Huy Cận qua đời tại Hà Nội, để lại một di sản văn học có giá trị lớn lao cho nền văn học Việt Nam.