Nhà thơ lỗi lạc của Việt Nam từng làm quan dưới 3 triều vua, được hướng tới xây dựng hồ sơ trình UNESCO vinh danh
Từ một vị quan trải qua nhiều thăng trầm, nhà khai hoang lập điền đến nhà thơ “ngất ngưởng” bậc nhất lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Công Trứ để lại di sản lớn, là nền tảng quan trọng cho hành trình đề xuất UNESCO vinh danh trong thời gian tới.
Sáng 28/5, UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức Hội thảo khoa học “Danh nhân Nguyễn Công Trứ - Giá trị di sản và tầm ảnh hưởng”, hướng tới xây dựng hồ sơ trình UNESCO vinh danh Nguyễn Công Trứ nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông vào năm 2028. Hội thảo quy tụ nhiều Giáo sư, Tiến sĩ, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Các tham luận tập trung làm rõ giá trị tư tưởng, nhân cách và di sản của Nguyễn Công Trứ theo tiêu chí vinh danh của UNESCO, đồng thời đề xuất định hướng bảo tồn, phát huy di sản trong bối cảnh đương đại.
Nguyễn Công Trứ có đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực như văn học, giáo dục, kinh tế, chính trị, quân sự... Không chỉ là nhà thơ lớn, ông còn được biết đến như một nhà cải cách kinh tế - xã hội, nhà doanh điền có công khai khẩn đất hoang, mở mang sinh kế cho người dân.
Theo các chuyên gia, di sản của Nguyễn Công Trứ không chỉ hiện diện trong nghiên cứu học thuật mà còn sống động trong đời sống văn hóa dân gian và nhiều địa danh gắn với công cuộc khai khẩn đất đai của ông. Đây được xem là nền tảng quan trọng để xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO vinh danh Nguyễn Công Trứ như một danh nhân văn hóa có tầm ảnh hưởng rộng lớn và bền vững.
Vị quan trung quân ái quốc dưới 3 triều vua
Theo nhiều sử liệu, Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778, mất năm 1858, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu là Hi Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân cũ, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, cũng có thông tin ông sinh ra ở Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình cũ, nay là Hưng Yên, đến năm 10 tuổi mới theo gia đình về quê cha Hà Tĩnh.
Từ nhỏ, ông đã thể hiện khí chất hơn người, luôn đau đáu lý tưởng giúp đời, lập công danh sự nghiệp. Đến năm 1819, khi 41 tuổi, ông mới thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan. Theo Danh nhân Việt Nam, ông làm quan dưới 3 triều vua là Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chính trực, giỏi giang nhưng sự nghiệp quan lộ của ông không mấy suôn sẻ, liên tục thăng - giáng chức.
Trong 28 năm làm quan, có khi ông giữ chức quan lớn Tham tán đại thần, Tổng đốc Đông, Phủ doãn Thừa Thiên... nhưng cũng có khi bị bắt đi làm lính thú ở biên thùy. Dù vậy, ông luôn là một trung quân ái quốc.
Năm 1847, Nguyễn Công Trứ xin cáo quan về hưu nhưng không được vua Thiệu Trị chấp thuận. Đến năm 1848, dưới triều vua Tự Đức, ông mới chính thức rời chốn quan trường.
Tuy nhiên, năm Mậu Ngọ 1858, khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, dù đã ngoài 80 tuổi, Nguyễn Công Trứ vẫn tha thiết xin được tòng quân đánh giặc. Trước tuổi cao, sức yếu của ông, vua Tự Đức không chuẩn y nhưng tinh thần yêu nước và khí phách của vị đại thần già vẫn khiến hậu thế cảm phục.
Người có công khai hoang lập điền
Không chỉ là một vị quan thanh liêm, Nguyễn Công Trứ còn có công lớn trong việc khai hoang, lập điền. Ông chính là người dâng sớ trình bày về việc vỡ ruộng hoang để dân nghèo có kế sinh nhai. Theo nhiều sử liệu, trong sớ của Nguyễn Công Trứ có nhắc đến ruộng đất bỏ hoang ở các huyện Giao Thủy, Chân Định. Ông nói rằng có thể chiêu mộ dân nghèo đến khai khẩn rồi cấp tiền công cho họ làm cửa nhà, mua trâu bò, nông cụ, cấp tiền gạo lương trong 6 tháng... Ngoài các mức chu cấp ấy, người dân làm lấy mà ăn, 3 năm thành ruộng, đến lệ thì đánh thuế.
Với tầm nhìn và khả năng tổ chức vượt trội, Nguyễn Công Trứ đã đưa công cuộc khẩn hoang, trị thủy đầu thế kỷ XIX đạt nhiều thành tựu nổi bật, vượt xa các giai đoạn trước đó.
Đầu năm 1828, vua Minh Mạng bổ nhiệm Nguyễn Công Trứ giữ chức Dinh điền sứ, giao nhiệm vụ khai khẩn đất hoang ven biển. Tại Tiền Châu (Nam Định), ông nhanh chóng tổ chức quai đê, lấn biển, chiêu dân lập ấp. Chỉ trong thời gian ngắn, đến tháng 10 cùng năm, huyện Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định được thành lập.
Sau thành công ở Tiền Hải, nhận thấy vùng ven biển các huyện Yên Khánh, Yên Mô (Ninh Bình) còn nhiều đất hoang, Nguyễn Công Trứ tiếp tục xin triều đình cho khảo sát, khai phá. Tháng 3/1829, ông cho thành lập huyện Kim Sơn, mở rộng đất đai và tạo sinh kế cho hàng vạn người dân.
Trong giai đoạn 1828 - 1839, tổng diện tích đất khai hoang lên tới gần 46.000 mẫu, riêng tại Nam Định và Ninh Bình cũ đã chiếm hơn 40.000 mẫu, gắn với sự ra đời của hai huyện mới là Tiền Hải và Kim Sơn. Cùng với việc mở mang ruộng đất, hàng trăm km đê điều được đào đắp, hàng vạn mẫu ruộng màu mỡ được hình thành, gần 100 làng, ấp, trại, giáp được lập nên, tạo sinh kế cho đông đảo người dân chỉ trong thời gian ngắn.
Không chỉ có công khai hoang, mở đất, Nguyễn Công Trứ còn góp phần dẹp các cuộc nổi dậy như Phan Bá Vành ở Nam Định, Nùng Văn Vân ở Tuyên Quang. Ông đặc biệt quan tâm đời sống nhân dân, đề xuất mở trường học cho con em nông dân, lập “xã thương” để dự trữ thóc gạo, hỗ trợ người nghèo và ổn định đời sống dân sinh.
Nhà thơ lỗi lạc của Việt Nam
Ngoài sự nghiệp quan trường, mỗi khi nhắc đến Nguyễn Công Trứ, người ta còn nhớ ngay đến một nhà thơ lỗi lạc với những triết lý nhân tình thế thái sâu sắc. Trải qua nhiều thăng trầm, ông gửi những chiêm nghiệm ấy vào thơ ca với giọng điệu phóng khoáng, đậm chất "ngông" ngang tàng, cá tính...
Thơ Nguyễn Công Trứ xoay quanh các chủ đề như chí làm trai, cảnh nghèo, thế thái nhân tình và triết lý hưởng lạc. Nhiều câu thơ của ông đã trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ như: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” hay “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngày chơi”.
Tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ có thể kể đến “Bài ca ngất ngưởng”. Bài thơ được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn THPT, không chỉ phản ánh cuộc đời làm quan nhiều thăng trầm mà còn thể hiện rõ khí phách, bản lĩnh và cái “ngông” rất riêng của một con người tài hoa, dám sống khác biệt.
Nhằm tri ân công lao của nhà thơ Nguyễn Công Trứ, hiện nay trên cả nước có gần 10 trường học mang tên ông. Nổi bật có thể kể đến Trường THPT Nguyễn Công Trứ (Nghi Xuân, Hà Tĩnh); Trường THPT Nguyễn Công Trứ (Ninh Bình)... Ngoài ra, tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... còn có đường mang tên Nguyễn Công Trứ.
Hiện nay, tại Hà Tĩnh và Ninh Bình đều có đền thờ Nguyễn Công Trứ. Trong đó, Quần thể Khu di tích Dinh điền sứ Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ ở xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là điểm đến văn hóa, lịch sử thu hút đông đảo du khách.
Khu di tích lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể như nhà thờ, bia đá, khu lăng mộ, nhà hát ca trù cùng hoạt động diễn xướng của Câu lạc bộ ca trù Nguyễn Công Trứ.
Quần thể được chia thành hai khu vực chính gồm khu lưu niệm - nhà thờ và khu mộ, trong đó khuôn viên nhà thờ rộng khoảng 2.000m2.
Năm 1991, Khu di tích Nguyễn Công Trứ được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Không chỉ là nơi thờ tự Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, nơi đây còn góp phần bảo tồn, lan tỏa những giá trị văn hóa, lịch sử gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Bài viết có tham khảo thông tin tại:
Danh nhân Nguyễn Công Trứ - Giá trị di sản và tầm ảnh hưởng - Báo Nhân dân
Nguyễn Công Trứ - Vị quan trung quân ái quốc, nhà khẩn hoang kiệt xuất - VOV
Tầm nhìn vượt thời đại của Nguyễn Công Trứ - Báo Nhân dân