Xuất khẩu gạo hàng đầu, vì sao Việt Nam vẫn nhập khẩu top 2 thế giới?
Dù là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, Việt Nam lại được dự báo trở thành nước nhập khẩu lúa gạo lớn thứ hai toàn cầu. Nghịch lý này phản ánh sự dịch chuyển của thị trường khi nguồn nguyên liệu giá thấp trong nước ngày càng thiếu hụt.
Chuyển dịch cơ cấu khiến nhu cầu nhập khẩu tăng
Số liệu dự báo từ Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 3,9 triệu tấn lúa gạo trong năm 2026. Hoạt động thương mại này chủ yếu diễn ra với Campuchia. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong bốn tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo đạt 3,3 triệu tấn với kim ngạch 1,57 tỉ USD. Ở chiều ngược lại, nước ta nhập khẩu khoảng 1,5 triệu tấn, tương đương 613 triệu USD, qua đó vẫn duy trì thặng dư thương mại ngành gạo ở mức 957 triệu USD.
Nguồn nhập khẩu này không phải gạo thành phẩm mà chủ yếu là lúa nguyên liệu, gạo trắng và tấm giá rẻ. Các doanh nghiệp tận dụng nguồn cung này để bù đắp lượng thiếu hụt của thị trường nội địa. Ông Nguyễn Vĩnh Trọng, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng tại Đồng Tháp, cho biết nguồn nguyên liệu nhập khẩu giá rẻ chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước như sản xuất bún, bánh, phở và đặc biệt là thức ăn chăn nuôi.
Sự thiếu hụt ở phân khúc giá thấp trong nước xuất phát từ quá trình chuyển đổi tư duy canh tác. Nông dân đã đồng loạt chuyển sang các loại lúa có hiệu quả kinh tế cao hơn nhằm tối ưu hóa lợi nhuận. Bà Dương Thanh Thảo, Phó Giám đốc Công ty CP Gạo Ông Thọ tại TP HCM, cho biết hiện nay nông dân chủ yếu trồng gạo thơm và gạo cao cấp như ST25, trong khi diện tích các giống gạo phổ thông như IR50404 hay OM5451 ngày càng giảm mạnh.
Sự dịch chuyển cơ cấu này cũng phù hợp với xu thế phát triển khi lao động nông thôn chuyển dịch sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Theo đó, nền sản xuất nội địa đang tập trung mạnh hơn vào các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao. TS Đào Minh Sô, Trưởng Bộ môn Chọn tạo giống cây trồng thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, nhận định đây là xu hướng tất yếu của kinh tế thị trường khi lao động nông nghiệp tại Việt Nam chuyển dịch sang các lĩnh vực khác, còn đất đai được tập trung cho nhóm sản xuất chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, việc gia tăng quá nhanh sản lượng lúa từ các nước lân cận cũng tạo ra áp lực cạnh tranh đối với những hộ chưa kịp chuyển đổi mô hình sản xuất. Giá lúa rẻ tràn qua biên giới đang làm thu hẹp biên độ lợi nhuận của các vùng chuyên canh cũ. Ông Phan Thành Bắc, Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp Sơn Hòa tại An Giang, cho rằng lượng lúa nhập khẩu từ Campuchia tăng mạnh đã góp phần kéo mặt bằng giá lúa gạo xuống thấp, khiến nhiều người thuê đất canh tác trong nước gần như chỉ hòa vốn.
Tìm lời giải bền vững cho ngành lúa gạo
Sự vận động của thương mại quốc tế luôn tuân theo quy luật thị trường, song để ổn định dài hạn, ngành lúa gạo vẫn cần sự điều tiết vĩ mô kịp thời. Một chiến lược phát triển đồng bộ, kết nối doanh nghiệp với vùng nguyên liệu sẽ giúp giảm rủi ro phụ thuộc từ bên ngoài. Đồng thời, hệ thống chính sách toàn diện không chỉ bảo vệ sinh kế cho nông dân mà còn góp phần giữ vững lợi thế cạnh tranh của gạo Việt trên thị trường quốc tế.
Giải pháp đầu tiên là nâng cao năng lực dự báo và định hướng lại cơ cấu cây trồng tại địa phương theo hướng khoa học hơn. Việc cân đối cung cầu sẽ giúp thị trường nội địa tránh rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa hoặc thiếu hụt cục bộ. Bà Dương Thanh Thảo, Phó Giám đốc Công ty CP Gạo Ông Thọ tại TP HCM, kiến nghị cần có quy hoạch hợp lý về vùng trồng và cơ cấu giống lúa nhằm cân đối cung cầu, tránh tình trạng thiếu hoặc dư thừa cục bộ, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
Bên cạnh công tác quy hoạch, việc nâng đỡ kinh tế hợp tác xã và hiện đại hóa hạ tầng logistics sau thu hoạch cũng được xem là đòn bẩy quan trọng để cắt giảm chi phí sản xuất. Các chính sách tín dụng ưu đãi cần được triển khai trực tiếp tới người dân để họ yên tâm đầu tư dài hạn. Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam đề xuất Nhà nước cần hỗ trợ nông dân vay vốn ưu đãi tương đương khoảng hai phần ba chi phí sản xuất, đồng thời hỗ trợ tích tụ đất đai và đầu tư các dịch vụ hậu cần như sấy lúa, cơ giới hóa.
Song song với đó, công cụ quản lý hành chính đối với điều kiện kinh doanh xuất khẩu cũng cần được cải cách theo hướng thực chất hơn, tập trung vào chất lượng sản phẩm và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm uy tín thương hiệu quốc gia. Hiệp hội Lương thực Việt Nam nhận định xuất khẩu gạo là ngành hàng đặc thù, liên quan trực tiếp đến uy tín quốc gia và sinh kế của hàng triệu nông dân nên cần tiếp tục quản lý bằng điều kiện kinh doanh, đồng thời kiến nghị sửa đổi quy định theo hướng tập trung vào năng lực bảo đảm nguồn hàng, kho chứa và chế biến.
Về lâu dài, chiến lược nâng tầm hạt gạo Việt Nam cần gắn liền với các tiêu chuẩn canh tác xanh và giảm phát thải để đáp ứng xu hướng tiêu dùng toàn cầu. Các mô hình chuyên canh quy mô lớn cũng cần được nhân rộng nhằm tạo đột phá về thu nhập cho người dân. Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đang được kỳ vọng sẽ góp phần giảm đáng kể chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân và thúc đẩy ngành lúa gạo phát triển theo hướng bền vững.