Vị tướng duy nhất đề nghị Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem xét lại phương châm tác chiến ở Điện Biên Phủ, từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an, được tặng danh hiệu Anh hùng
Trong những năm hoạt động cách mạng, ông có thời gian dài công tác, làm việc và gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cũng được Bác đặc biệt quý mến.
Người chỉ huy xuất sắc của khởi nghĩa Ba Tơ
Trung tướng Phạm Kiệt tên thật Phạm Quang Khanh, bí danh Tê Đơ (T2), sinh ngày 10/1/1910 tại xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Trường Giang, tỉnh Quảng Ngãi). Ông sinh ra trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước. Thân sinh của ông là cụ Phạm Quang Đình, người sớm tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp.
Năm 1928, Phạm Kiệt cùng một số đồng chí thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại huyện Sơn Tịnh. Đến năm 1930, ông được giao phụ trách Công hội đỏ và Xích vệ đỏ tại địa phương. Ngày 17/1/1931, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam, tích cực tham gia các hoạt động ủng hộ phong trào Xô viết Nghệ-Tĩnh.
Tháng 6/1931, đồng chí Phạm Kiệt bị mật thám Pháp bắt tại nhà lao Quảng Ngãi, sau đó bị chuyển đến nhà lao Lao Bảo, Quảng Trị. Sau đó, ông tiếp tục bị đưa đến nhà tù Buôn Ma Thuột, nơi giam giữ nhiều cán bộ, đảng viên cách mạng.
Trong thời gian bị giam giữ, Phạm Kiệt cùng các đồng chí tiếp tục xây dựng tổ chức chi bộ trong nhà tù, bí mật đào tạo, hướng dẫn đảng viên mới về lý luận, kỹ năng và phương pháp vận động quần chúng. Ông cũng tham gia tổ chức và lãnh đạo các vụ vượt ngục cho nhiều cán bộ cách mạng, trong đó có Nguyễn Chí Thanh.
Cuối năm 1943, sau khi mãn hạn tù, Phạm Kiệt bị thực dân Pháp đưa cùng một số tù chính trị khác đến Căng an trí Ba Tơ. Tại đây, ông tiếp tục tham gia Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 12/1944, ông cùng các đồng chí tham gia thành lập Tỉnh ủy Quảng Ngãi lâm thời, do Trương Quang Giao làm Bí thư.
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương. Tại Quảng Ngãi, Tỉnh ủy lâm thời quyết định phát động Khởi nghĩa Ba Tơ và giao Phạm Kiệt trực tiếp chỉ huy. Sau một đêm chiến đấu, lực lượng cách mạng chiếm đồn Ba Tơ, bắt các sĩ quan và binh lính trong đồn, giải tán chính quyền tay sai và giành chính quyền về tay nhân dân.
Sáng 13/3/1945, Đội du kích Ba Tơ được thành lập. Phạm Kiệt được Tỉnh ủy giao làm Chỉ huy trưởng. Tại cuộc mít tinh trước đông đảo quần chúng, ông tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, kêu gọi nhân dân đoàn kết, bảo vệ chính quyền và thành quả của cuộc khởi nghĩa.
Từ lực lượng ban đầu, Đội du kích Ba Tơ tiếp tục phát triển, tỏa đi nhiều địa bàn, xây dựng các chiến khu và căn cứ. Lực lượng này sau đó trở thành một trong những lực lượng tiền thân của lực lượng vũ trang cách mạng tại Khu V.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Phạm Kiệt tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Năm 1946, khi thực dân Pháp mở rộng chiến tranh tại Nam Bộ và miền Trung, ông giữ cương vị Chỉ huy trưởng Mặt trận Nam Trung Bộ. Trong 101 ngày đêm phòng thủ Nha Trang, lực lượng vũ trang và nhân dân dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Nam Trung Bộ tổ chức chiến đấu, cầm chân và tiêu hao lực lượng quân Pháp tại đây.
Từ cuối năm 1949, Phạm Kiệt được Trung ương giao nhiệm vụ ra Việt Bắc. Ông trực tiếp tham gia các Chiến dịch Biên giới và Hòa Bình. Năm 1952, ông được bổ nhiệm làm Cục phó Cục Bảo vệ, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời là Hiệu phó Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn.
Mạnh dạn đề nghị xem xét lại phương châm tác chiến ở Điện Biên Phủ
Đầu năm 1954, Phạm Kiệt tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ với nhiệm vụ phụ trách công tác bảo vệ. Trong quá trình theo dõi việc chuẩn bị chiến trường, ông được cử đi nắm tình hình và kiểm tra công tác kéo pháo.
Ngày 23/1/1954, trong lúc theo dõi các đơn vị kéo pháo ở phía Tây, đồng chí Phạm Kiệt nhận thấy pháo binh của ta được bố trí trên những trận địa dã chiến, địa hình tương đối trống trải và một số khẩu pháo vẫn chưa được kéo tới vị trí. Ông nhận định nếu chiến đấu trong điều kiện đó, pháo của ta có thể chịu tổn thất trước hỏa lực pháo binh và không quân của đối phương.
Ông đã báo cáo tình hình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua điện thoại và đề nghị xem xét lại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”. Sau này, trong hồi ký, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định, Cục phó Cục Bảo vệ Quân đội Phạm Kiệt là người đầu tiên và cũng là duy nhất phát hiện khó khăn và thẳng thắn báo cáo Chỉ huy trưởng Mặt trận.
Ý kiến của đồng chí Phạm Kiệt cùng những thông tin từ công tác trinh sát, nắm tình hình chiến trường góp phần giúp Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp có thêm căn cứ để cân nhắc phương án tác chiến.
Sau quá trình cân nhắc, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Việc thay đổi phương châm kéo theo quá trình tổ chức lại công tác chuẩn bị chiến trường và kéo pháo ra khỏi trận địa để chuẩn bị cho cách đánh mới.
Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu, ngày 7/5/1954, quân ta giành thắng lợi, buộc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp phải đầu hàng.
Đại tướng Lê Trọng Tấn, nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, từng nói trong dịp kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ”.
Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Phạm Kiệt tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị. Năm 1958, ông được phong quân hàm Đại tá. Năm 1960, ông được giao giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an. Năm 1961, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Tháng 4/1974, ông được phong quân hàm Trung tướng.
Được Bác Hồ đặc biệt quý mến
Trong những năm hoạt động cách mạng, Trung tướng Phạm Kiệt có thời gian công tác, làm việc gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông từng là người cận vệ theo sát Bác trong thời gian ở chiến khu. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương Nam Đàn, Phạm Kiệt cũng có mặt trong đoàn tháp tùng. Những lần Bác đến thăm lực lượng Công an nhân dân vũ trang, ông cũng thường có mặt trong hàng quân danh dự đón Người.
Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phạm Kiệt còn được lưu lại qua những hiện vật mà Người từng trao tặng ông và gia đình.
Sau Chiến dịch Biên giới năm 1950, Bác Hồ tặng Phạm Kiệt một khẩu carbine chiến lợi phẩm, số hiệu 585440.
Đầu năm 1954, vợ ông là bà Trần Thị Ngộ cùng 3 người con ra Việt Bắc. Trong thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng bà Trần Thị Ngộ một khẩu súng lục Mô-de, số hiệu 707271, cỡ 6,35mm. Sau khi trao khẩu súng, Bác dặn bà Trần Thị Ngộ sử dụng để tự vệ và bảo vệ các con, giúp Phạm Kiệt yên tâm làm nhiệm vụ nơi chiến trường.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tặng Phạm Kiệt một chiếc radio từng được tướng Đờ Cát sử dụng trong chiến dịch. Ba hiện vật gồm khẩu carbine số hiệu 585440, khẩu súng lục Mô-de số hiệu 707271 và chiếc radio sau đó được gia đình hiến tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Trung tướng Phạm Kiệt từ trần ngày 23/1/1975 tại Hà Nội và được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch. Ngay trong ngày ông từ trần, Đảng và Nhà nước truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh.
Gần 40 năm sau khi ông về cõi vĩnh hằng, ngày 25/7/2012, Đảng, Nhà nước đã truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Trung tướng Phạm Kiệt. Đây là phần thưởng xứng đáng cho công lao cống hiến của ông, nhằm tôn vinh người anh hùng suốt cả cuộc đời đã tận tụy vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Bài viết sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Trung tướng Phạm Kiệt: Một bản lĩnh, một nhân cách lớn - Báo QĐND
- Tướng Phạm Kiệt và những kỷ vật của Bác Hồ - Tạp chí Văn hóa và Phát triển
- Trung tướng Phạm Kiệt - Nhà quân sự tài ba, đức độ - Báo Công an TP. HCM
- Ai đã đề nghị tướng Giáp thay đổi cách đánh tại Điện Biên Phủ? - Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam