Trường ĐH lâu đời nhất Việt Nam có tuổi đời hơn 120 năm: 'Cái nôi' đào tạo nhiều bác sĩ tinh hoa, phải đạt trên 9,3 điểm/môn mới có cơ hội trúng tuyển

Đời sống 15/06/2026 23:45

Đây là một trong những cơ sở đào tạo có đầu vào khắt khe nhất cả nước. Nhiều ngành học của trường liên tục nằm trong nhóm có điểm chuẩn cao, thu hút đông đảo thí sinh mỗi mùa tuyển sinh.

Trải qua 124 năm hình thành và phát triển, Trường Đại học Y Hà Nội đã khẳng định vị thế là một trong những cơ sở đào tạo y khoa lâu đời và uy tín nhất Việt Nam. Từ ngôi trường được thành lập đầu thế kỷ XX với nhiệm vụ đào tạo nhân lực y tế cho toàn Đông Dương, đến nay, Đại học Y Hà Nội đã trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ y học hàng đầu cả nước.

yhn7_1781522174.jpg
Trường Đại học Y Hà Nội được thành lập năm 1902 và được xem là trường đại học “cổ” nhất Việt Nam. Ảnh: Người Đưa tin

Trường đại học “cổ” nhất Việt Nam 

Ngày 8/11/1902, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký nghị định thành lập Trường Y khoa Hà Nội (École de Médecine de Hanoi) - tiền thân của Trường Đại học Y Hà Nội ngày nay. Trước đó, ngày 27/2/1902, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường được tổ chức tại ấp Thái Hà và đến ngày 1/3 cùng năm, khóa học đầu tiên chính thức khai giảng.

Sự ra đời của nhà trường xuất phát từ nhu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực y tế cho toàn Đông Dương trong bối cảnh hệ thống chăm sóc sức khỏe còn thiếu hụt nghiêm trọng. Đây cũng là trường đào tạo bác sĩ đầu tiên của khu vực Đông Dương.

Người được giao trọng trách xây dựng nhà trường là bác sĩ Alexandre Yersin - nhà khoa học nổi tiếng thế giới với công trình phát hiện trực khuẩn gây bệnh dịch hạch. Ông trở thành hiệu trưởng đầu tiên của trường và được xem là người đặt nền móng cho nền giáo dục y khoa hiện đại ở Việt Nam.

yhn4_1781522187.png
yhn2_1781522187.png
Đại học Y Hà Nội từng có 6 hiệu trưởng là bác sĩ người Pháp. Ảnh tư liệu 

Trong hơn 2 năm đảm nhiệm cương vị lãnh đạo, Yersin theo đuổi mục tiêu xây dựng một trường y chính quy theo mô hình Đại học Y Paris. Thách thức đầu tiên ông phải giải quyết là trình độ đầu vào của học sinh khi đó mới chỉ đáp ứng yêu cầu đào tạo y tá. Để nâng cao chất lượng đào tạo, ông tổ chức bổ túc văn hóa, từng bước xây dựng chương trình đào tạo y sĩ, tạo tiền đề để nhà trường phát triển lên trình độ cao đẳng rồi đại học.

Khó khăn thứ 2 đến từ những bất đồng với chính quyền thuộc địa về nhiều ý tưởng cải cách táo bạo. Dù vậy, trước khi rời vị trí hiệu trưởng, ông đã hoàn thành việc chuyển trường từ làng Kinh Lược về phố Bobillot (nay là phố Lê Thánh Tông) và xây dựng bệnh viện thực hành tại khu vực phố Lò Đúc.

Những năm tiếp theo, nhiều bác sĩ người Việt bắt đầu tham gia đội ngũ giảng dạy. Nhiều người trong số này đã trở thành những nhà khoa học lớn của Việt Nam như GS Hồ Ðắc Di, GS Tôn Thất Tùng, BS Phạm Ngọc Thạch, GS Ðặng Văn Ngữ, GS Ðỗ Xuân Hợp…

Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Trường Y khoa Đông Dương được đổi tên thành Trường Đại học Y Dược Việt Nam, trở thành trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến năm 1961, trường tách ra thành Đại học Dược Hà Nội và Đại học Y Hà Nội.

GS Hồ Ðắc Di chính là người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng của trường. GS. Hồ Đắc Di (1900-1984) sinh ra tại Huế. Theo lời khuyên của ngự y triều đình Huế, gia đình đã chọn nghề y cho Hồ Đắc Di. Từ năm 1918 tới 1932, ông du học ở Pháp. Ông tốt nghiệp bác sĩ với luận văn về phương pháp mới trong phẫu thuật dạ dày - tá tràng để điều trị chứng hẹp môn vị mà không phải cắt bỏ dạ dày. Ông làm việc một thời gian ở Bệnh viện Tenon rồi về nước. 

yhn6_1781522187.png
GS Hồ Đắc Di (bìa phải) tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên tới thăm Trường Đại học Y. Ảnh tư liệu

Ngày 15/11/1945, tại lễ khai giảng năm học mới của trường, GS Hồ Đắc Di đọc diễn văn trước sự chứng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Giữ vững ngọn lửa đào tạo trong khói lửa chiến tranh

Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, nhiều giảng viên và sinh viên của trường đã tham gia các đoàn quân Nam tiến, trực tiếp cứu chữa thương binh trên chiến trường.

Đến cuối năm 1947, bộ phận chủ lực của trường do GS Hồ Đắc Di và GS Tôn Thất Tùng dẫn dắt di chuyển lên chiến khu Việt Bắc. Ngày 6/10/1947, lễ khai giảng năm học của Trường Đại học Y Dược kháng chiến được tổ chức giữa núi rừng Việt Bắc.

Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, nhà trường vừa đào tạo nhân lực y tế cho quân và dân y, vừa trực tiếp tham gia cứu chữa thương bệnh binh tại nhiều chiến dịch lớn. Dù điều kiện thiếu thốn, nhiều công trình khoa học quan trọng vẫn ra đời.

Tiêu biểu là công trình nghiên cứu sản xuất kháng sinh pê-ni-xi-lin của GS Đặng Văn Ngữ, góp phần cứu sống hàng vạn thương bệnh binh. Bộ giáo trình Giải phẫu bằng tiếng Việt do GS Đỗ Xuân Hợp biên soạn cũng trở thành giáo trình đại học đầu tiên bằng tiếng Việt ở Việt Nam, tạo cơ sở quan trọng cho sự ra đời của hệ thống thuật ngữ y học bằng tiếng Việt hiện nay.

yhn10_1781522175.jpg
Hiện nay, Trường Đại học Y Hà Nội có cơ sở chính tại phố Tôn Thất Tùng (Hà Nội). Ảnh: Người Đưa tin

Trong thời kỳ xây dựng miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, quy mô đào tạo của trường tiếp tục được mở rộng. Từ năm 1965 đến 1972, nhà trường đã chi viện 241 cán bộ, sinh viên cho miền Nam; cung cấp 516 bác sĩ cho các chiến trường B, C, K; chuyển 332 sinh viên năm cuối sang quân y và bổ sung 979 bác sĩ cho quân đội.

Hàng nghìn lượt cán bộ, sinh viên có mặt trên khắp các chiến trường. Nhiều người đã anh dũng hy sinh, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Đặng Văn Ngữ và bác sĩ Đặng Thùy Trâm - những biểu tượng của trí tuệ, lòng nhân ái và tinh thần cống hiến của ngành y Việt Nam.

Trọng điểm quốc gia về đào tạo và nghiên cứu y học

Sau năm 1975, Trường Đại học Y Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới với vai trò hạt nhân của hệ thống đào tạo y khoa cả nước.

Nhà trường tham gia hỗ trợ xây dựng nhiều trường đại học y ở các địa phương, đồng thời tiếp tục phát triển các chương trình đào tạo sau đại học. Hệ bác sĩ nội trú bệnh viện được duy trì và trở thành mô hình đào tạo đặc thù, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các bệnh viện tuyến đầu.

Từ năm 1972, trường bắt đầu đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp II; năm 1977 triển khai đào tạo nghiên cứu sinh; đến năm 1980, luận án Tiến sĩ y học đầu tiên tại Việt Nam được bảo vệ thành công tại đây.

yhn9_1781522175.jpg
Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại để học viên, sinh viên tiếp cận phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học. Ảnh: Người Đưa tin
yhn8_1781522175.jpg
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã được phát triển và đưa vào sử dụng từ năm 2007, đây là cơ sở thực nghiệm của trường tạo điều kiện cho sinh viên phát triển năng lực chuyên môn. Ảnh: Người Đưa tin

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, trường đã thực hiện 12 đề tài cấp Nhà nước, 96 đề tài cấp Bộ, 45 đề tài nghiên cứu cơ bản, 18 đề tài hợp tác quốc tế cùng gần 500 đề tài cấp cơ sở. Trường cũng là đơn vị đầu tiên tổ chức Hội nghị khoa học tuổi trẻ ngành y dược toàn quốc.

Hợp tác quốc tế được mở rộng với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức khoa học đến từ Pháp, Hà Lan, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga và Canada. Nhiều dự án hợp tác trị giá hàng chục triệu USD đã được triển khai, góp phần nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu của nhà trường.

Hiện nay, Trường Đại học Y Hà Nội có cơ sở chính tại phố Tôn Thất Tùng (Hà Nội) và phân hiệu tại Thanh Hóa được thành lập năm 2014.

Tổng diện tích sử dụng của trường khoảng 10,7ha, trong đó 3,6ha dành cho hoạt động khám chữa bệnh và 5,1ha phục vụ đào tạo. Hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm kỹ năng tiền lâm sàng, phòng mô phỏng điều dưỡng cùng nhiều trang thiết bị hiện đại được đầu tư đồng bộ phục vụ học tập và nghiên cứu.

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 137/QĐ-BYT ngày 16/1/2007 và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9 cùng năm. Đây là bệnh viện trực thuộc trường, thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và khám chữa bệnh.

Nhà trường cũng đầu tư hệ thống sân vận động, nhà thi đấu đa năng, sân bóng đá, bóng rổ và khu ký túc xá 15 tầng với hơn 2.000 chỗ ở dành cho sinh viên, học viên.

Tính đến năm 2024, Trường Đại học Y Hà Nội đã đào tạo hơn 35.000 bác sĩ y khoa, cử nhân y khoa, cử nhân điều dưỡng và trên 25.000 cán bộ y tế trình độ sau đại học gồm tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ nội trú và các hệ chuyên khoa. 

Với những đóng góp nổi bật trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ đất nước, Trường Đại học Y Hà Nội đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cấp Nhà nước khác.

Năm 2025, điểm chuẩn ngành Y khoa tại trường lên tới 28,13 điểm, đồng nghĩa thí sinh phải đạt trung bình trên 9,3 điểm/môn mới có cơ hội trúng tuyển. Sinh viên Y khoa có thời gian đào tạo 6 năm. Sau khi tốt nghiệp, các cử nhân thường mất thêm 3 năm để học chương trình đào tạo Bác sĩ nội trú.

yhn_1781522174.png
Các bác sĩ trẻ đăng ký tại Ngày đăng ký chuyên ngành Bác sĩ Nội trú khóa 50. Ảnh: HMU

Trong mùa tuyển sinh năm 2026, trường dự kiến tuyển 2.150 sinh viên, tăng 240 chỉ tiêu so với năm trước. Nhiều ngành được điều chỉnh tổ hợp xét tuyển theo hướng đa dạng hơn. Dù quy mô tuyển sinh mở rộng, điểm chuẩn của trường nhiều năm qua vẫn thuộc nhóm cao nhất cả nước, phản ánh sức hút của một cơ sở đào tạo y khoa hàng đầu.

Anh Khôi