Nhà văn đầu tiên được trao danh hiệu Anh hùng Lao động, ví là người 'tạc tượng' Bác Hồ bằng ngòi bút
Sau khi điều trị, ông vẫn còn 14 mảnh đạn trong cơ thể, bị liệt tay trái, thị lực chỉ còn 1/10... nhưng vẫn kiên trì luyện tập, vượt qua đau đớn để tiếp tục cầm bút sáng tác nên những tác phẩm giàu giá trị nhân văn.
Trong số những nhà văn, nhà báo nổi tiếng với các tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Sơn Tùng là một cái tên để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc.
Suốt sự nghiệp cầm bút của mình, ông đã để lại khoảng 30 tác phẩm về vị lãnh tụ đáng kính của dân tộc Việt Nam, từ đó được mệnh danh là người “tạc tượng” Bác Hồ bằng ngòi bút.
Tiếp nối truyền thống yêu nước, cách mạng của gia đình
Theo chuyên trang của Đại biểu Nhân dân tỉnh Nghệ An, nhà văn Sơn Tùng tên thật là Bùi Sơn Tùng, sinh ngày 8/8/1928 tại làng Hoa Lũy, xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu cũ (nay là xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An), trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước, cách mạng. Cha ông là Bí thư chi bộ đầu tiên của xã từ năm 1930. Mẹ ông cũng tham gia nuôi giấu cán bộ của Đảng. Từ nhỏ, ông đã được dạy về lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc ngoại xâm.
Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, Sơn Tùng sớm được hun đúc tinh thần yêu nước và ý chí cống hiến cho dân tộc. Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cả 7 anh chị em trong gia đình ông đều tham gia cách mạng. Một người đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, còn Sơn Tùng mang trên mình thương tật nặng nề, trở thành thương binh đặc biệt hạng 1/4.
Những ngày tháng mưa bom bão đạn ấy, ông đã kiên cường, xông pha ra chiến trường. Năm 1944, khi mới 16 tuổi, Sơn Tùng đã tham gia hoạt động cách mạng và được giao nhiệm vụ giao thông bí mật cho Việt Minh. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được tín nhiệm giữ chức Bí thư Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc của xã. Một năm sau, ông tiếp tục đảm nhận cương vị Ủy viên Thanh niên Cứu quốc cấp huyện, tích cực tham gia xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ.
Năm 1948, ở tuổi 20, Sơn Tùng vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dấu son ấy là sự ghi nhận xứng đáng đối với một thanh niên sớm dấn thân cho cách mạng và cũng là động lực để Sơn Tùng tiếp tục cống hiến. Cuối năm 1954, ông được cử ra Hà Nội học đại học để chuẩn bị cho những nhiệm vụ mới trong giai đoạn hòa bình xây dựng đất nước.
Từ tháng 6 - 11/1955, Sơn Tùng được giao trọng trách Phó Trưởng đoàn đại biểu thanh niên, sinh viên Việt Nam tham dự Đại hội Thanh niên và Sinh viên Thế giới lần thứ V tổ chức tại Ba Lan. Trong chuyến công tác này, ông còn có dịp thăm Liên Xô và Trung Quốc.
Sau khi tốt nghiệp đại học, ông lần lượt công tác tại Phú Thọ, rồi trở về Hà Nội làm giảng viên Khoa Báo chí của Trường Tuyên giáo Trung ương. Tuy nhiên, bằng niềm đam mê nghề báo, ông trở thành phóng viên của Báo Nông nghiệp, Báo Tiền phong, gắn bó với thực tiễn đời sống.
Trước thềm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Sơn Tùng cùng đồng đội vượt dãy Trường Sơn vào chiến trường B2 ở miền Đông Nam Bộ. Tại đây, ông tham gia thành lập Báo Thanh niên Giải phóng và trực tiếp phụ trách tờ báo, dùng ngòi bút để cổ vũ tinh thần chiến đấu của lực lượng cách mạng nơi tuyến đầu.
Ngày 15/4/1971 trở thành dấu mốc không thể quên trong cuộc đời ông. Trong một trận càn của Mỹ ngụy, ông bị thương đặc biệt nặng, tay phải bị liệt hoàn toàn, xương vai và xương cánh tay trái bị nghiền nát, 3 mảnh đạn găm sâu trong hộp sọ không thể phẫu thuật lấy ra, mắt phải tổn thương nghiêm trọng khiến thị lực chỉ còn một phần rất nhỏ. Trải qua hành trình dài đầy gian nan giữa bom đạn chiến tranh, ông được chuyển ra miền Bắc để điều trị và phục hồi sức khỏe.
Những thương tích chiến tranh để lại hậu quả nặng nề khiến ông mất tới 81% sức khỏe. Cuối năm 1979, Sơn Tùng nghỉ hưu với chế độ thương binh hạng 1/4 - mức xếp loại thương tật cao nhất thời bấy giờ.
Mặc dù sức khỏe yếu nhưng ý chí và nghị lực phi thường không cho phép ông dừng lại. Rời chiến trường, ông vẫn tiếp tục gắn bó với nghề báo và viết văn. Những năm tháng ấy không hề dễ dàng, những cơn đau nhức dai dẳng, ông vẫn kiên trì tự rèn luyện. Từ những trải nghiệm sâu sắc của một người chiến sĩ, nhà báo và nhân chứng lịch sử, ông đã dành trọn tâm huyết để viết về Đảng, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nhân dân và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Chính nghị lực sống phi thường cùng những đóng góp bền bỉ ấy đã làm nên chân dung một Sơn Tùng - người chiến sĩ cầm bút đặc biệt của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Tác phẩm kinh điển Búp sen xanh
Không chỉ là một nhà báo cách mạng kiên cường, Sơn Tùng còn để lại cho nền văn học Việt Nam một di sản sáng tác đồ sộ và giàu giá trị nhân văn. Trong suốt sự nghiệp cầm bút, ông đã cho ra đời hàng chục tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau.
Ngay từ những năm 1948 - 1949, khi tham gia hoạt động trong Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh Nghệ An, Sơn Tùng đã có cơ duyên gặp gỡ bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Tất Đạt - chị và anh ruột của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ những cuộc trò chuyện ấy, ông được nghe kể nhiều kỷ niệm cảm động về tuổi thơ, gia cảnh và những năm tháng trưởng thành của cậu bé Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành. Chính những tư liệu sống quý giá đó đã trở thành nền tảng quan trọng cho quá trình nghiên cứu và sáng tác của ông sau này.
Có thể nói, Sơn Tùng đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu, sưu tầm tư liệu và sáng tác về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông dày công gặp gỡ nhân chứng, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu và cẩn trọng kiểm chứng từng chi tiết lịch sử. Nhờ vậy, các tác phẩm của ông không chỉ giàu cảm xúc mà còn mang giá trị tư liệu đáng tin cậy.
Đặc biệt, nhắc đến nhà văn Sơn Tùng, độc giả sẽ nhớ ngay đến tiểu thuyết Búp sen xanh - tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất trong sự nghiệp văn chương của ông. Bằng sự am hiểu sâu sắc về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng quá trình tích lũy tư liệu công phu trong nhiều năm, nhà văn đã tái hiện sinh động tuổi thơ và những năm tháng đầu đời của Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành. Đến nay, Búp sen xanh đã được tái bản hơn 30 lần, dịch ra nhiều thứ tiếng và có sức lan tỏa rộng rãi trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, Sơn Tùng còn ghi dấu ấn với nhiều tác phẩm như Bông sen vàng, Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh, Bác về, Từ làng Sen, Bác Hồ cầu hiền tài, Hoa râm bụt, Bác ở nơi đây, Bên khung cửa sổ, Nhớ nguồn, Kỷ niệm tháng Năm, Con người và con đường, Trần Phú, Nguyễn Hữu Tiến, Vườn nắng, Trái tim quả đất, Mẹ về, Lõm và kịch bản điện ảnh Cuộc chia ly trên bến Nhà Rồng... Ngoài văn xuôi, ông còn sáng tác gần một trăm bài thơ. Trong số đó, bài thơ Gửi em chiếc nón bài thơ được phổ nhạc và quen thuộc với nhiều thế hệ độc giả, người yêu nhạc.
Với những đóng góp to lớn cho nền báo chí, văn học và sự nghiệp cách mạng, nhà văn Sơn Tùng được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý.
Năm 2011, Sơn Tùng trở thành nhà văn đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Trong lễ đón nhận danh hiệu cao quý ấy, người chiến sĩ - nhà văn cách mạng phải ngồi trên xe lăn vì những di chứng chiến tranh.
Tháng 8/2021, nhà văn Sơn Tùng qua đời, hưởng thọ 94 tuổi. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng bạn đọc và giới văn chương.
Bài viết tham khảo thông tin tại:
Sơn Tùng - Nhà văn chiến sỹ, người cộng sản anh hùng - Đại biểu Nhân dân tỉnh Nghệ An
Nhà văn Sơn Tùng: “Búp sen xanh” ngát hương - Huế Ngày nay.