Mục tiêu 2026-2030 của Bộ Y tế: Giảm 20% chuyển tuyến qua mạng lưới 200 bệnh viện vệ tinh

Sống khỏe 07/07/2026 16:02

Giai đoạn 2026-2030, Bộ Y tế đặt mục tiêu tổ chức lại toàn diện hệ thống chăm sóc sức khỏe theo hướng gần dân, liên thông và hiệu quả hơn. Thông qua việc song song triển khai Đề án phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh và định hướng công tác y học gia đình, ngành y tế kỳ vọng sẽ tháo gỡ điểm nghẽn về quá tải tuyến trên, đồng thời cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe xuyên suốt cho người bệnh ngay tại địa phương.

Mục tiêu bổ sung 200 bệnh viện vệ tinh và giảm 20% lượt chuyển tuyến

Theo Quyết định số 1068 ban hành ngày 17/4/2026, Bộ Y tế đã chính thức phê duyệt Đề án phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2026-2030. Chiều 6/7, tại hội nghị tổng kết công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật diễn ra ở Đà Nẵng, các định hướng chiến lược của đề án này đã được lãnh đạo Bộ Y tế và các chuyên gia phân tích sâu rộng nhằm đưa ra các bước đi thực tiễn nhất.

Đề án đặt mục tiêu phát triển bổ sung ít nhất 200 bệnh viện vệ tinh trong giai đoạn tới. Yêu cầu đặt ra là 100% bệnh viện vệ tinh tham gia đề án phải tiếp nhận và triển khai thành công các gói kỹ thuật được chuyển giao. Từ nền tảng đó, toàn mạng lưới phấn đấu kéo giảm ít nhất 20% số lượt người bệnh phải chuyển lên cơ sở chuyên môn kỹ thuật cao hơn hoặc cùng cấp, kết hợp mở rộng hoạt động hỗ trợ chuyên môn từ xa.

1_1783398013.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế phát biểu tại Hội nghị.

Nhìn lại kết quả đạt được trong giai đoạn 2020-2025, GS.TS Trần Văn Thuấn - Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia đánh giá cao những nỗ lực của công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật. Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ Y tế nhấn mạnh rằng việc triển khai mạng lưới vệ tinh trong giai đoạn mới không thể chạy theo số lượng mà cần đo đếm bằng những giá trị cốt lõi. Thứ trưởng phát biểu: "Câu hỏi quan trọng là người bệnh có được điều trị kịp thời ngay tại địa phương hay không, có giảm được những chuyến chuyển viện không cần thiết hay không".

Chính vì thế, mọi hoạt động chuyển giao kỹ thuật tới cơ sở vệ tinh phải bám sát tinh thần thực tiễn và nhu cầu của người bệnh. “Điều quan trọng là đề án phải được triển khai bằng tinh thần thực chất. Trong cách tiếp cận mới của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, người bệnh cần được chuyển đến cơ sở phù hợp nhất với tình trạng bệnh, không mặc nhiên dồn lên bệnh viện cấp cao nhất”, GS.TS Trần Văn Thuấn nhấn mạnh.

Y học gia đình là nền tảng của chăm sóc sức khỏe liên tục

Bên cạnh việc nâng cao năng lực cho các bệnh viện vệ tinh, hệ thống y tế giai đoạn tới sẽ tập trung nguồn lực để định hình lại công tác y học gia đình. Đây không đơn thuần là việc mở thêm một phòng khám, mà là phương thức chăm sóc toàn diện, liên tục, lấy người dân làm trung tâm và gắn liền quá trình phòng bệnh với phục hồi chức năng.

Đặc biệt, đối với những bệnh nhân mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, ung thư sau quá trình điều trị chuyên sâu, hoặc người cao tuổi có nhiều bệnh nền, y học gia đình giúp họ được theo dõi lâu dài ngay tại địa phương thay vì dồn ứ lên các bệnh viện tuyến cuối.

Về triết lý chăm sóc sức khỏe này, Thứ trưởng Trần Văn Thuấn khẳng định: "Một nền y tế hiện đại không chỉ được nhìn nhận qua năng lực của những bệnh viện chuyên sâu, mà trước hết phải được cảm nhận từ chính người dân: khi cần, họ được tiếp cận dịch vụ phù hợp, kịp thời, có chất lượng ngay tại nơi mình sinh sống; khi đã qua giai đoạn điều trị cấp tính, họ vẫn có nơi tiếp tục theo dõi, chăm sóc và đồng hành".

Để mô hình y học gia đình vận hành thông suốt, dữ liệu sức khỏe bắt buộc phải được liên thông đồng bộ. Thông tin từ hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, dữ liệu khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế cần được kết nối chặt chẽ giữa trạm y tế, phòng khám và bệnh viện các cấp, bảo đảm quá trình theo dõi người bệnh không bị đứt đoạn.

Ba định hướng trọng tâm để hiện thực hóa hệ thống y tế hiện đại

Để Đề án mang lại hiệu quả cao nhất, tại hội nghị, TS.BS Hà Anh Đức - Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cùng các đại biểu đã thống nhất ba nhóm giải pháp mang tính định hướng cho giai đoạn tiếp theo.

Thứ nhất, việc lựa chọn bệnh viện hạt nhân, cơ sở vệ tinh và gói kỹ thuật chuyển giao phải đi từ nhu cầu thực tiễn. Các đơn vị cần căn cứ chặt chẽ vào mô hình bệnh tật, điều kiện địa lý cùng nguồn nhân lực sẵn có của địa phương để đưa ra danh mục phù hợp, kiên quyết ngăn chặn tình trạng làm theo phong trào.

Thứ hai, đổi mới toàn diện công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật. Mỗi gói kỹ thuật được chuyển giao phải gắn liền với lộ trình đào tạo, giám sát và hội chẩn từ xa. Mục tiêu này chỉ thực sự hoàn thành khi các phương pháp điều trị mới được vận hành an toàn và trở thành hoạt động khám chữa bệnh thường quy tại y tế cơ sở.

Thứ ba, khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý cho nguyên lý y học gia đình. Cơ quan quản lý cần sớm làm rõ các quy định về vị trí, chuẩn năng lực, phạm vi chuyên môn, mô hình chăm sóc tại nhà. Đồng thời, việc tháo gỡ vướng mắc trong liên thông dữ liệu và cơ chế thanh toán bảo hiểm y tế là bước đi bắt buộc để vừa tạo dư địa phát triển cho y học gia đình, vừa bảo đảm tối đa quyền lợi của người bệnh.

Mạnh Quỳnh