Huy động hơn 80.000 người đào tay suốt 5 năm, xây dựng ‘siêu công trình’ lớn nhất Việt Nam thời phong kiến

Đời sống 18/03/2026 15:28

Khối lượng đất đá khổng lồ được dịch chuyển giữa vùng rừng thiêng nước độc đã tạo nên công trình lớn nhất Việt Nam cách đây 200 năm.

Kênh Vĩnh Tế là một trong những công trình đào kênh quy mô lớn nhất Việt Nam thời phong kiến, kéo dài gần 100km, rộng trung bình 30-40m, chạy song song đường biên giới Việt Nam - Campuchia. Tuyến kênh bắt đầu từ sông Châu Đốc (An Giang), nối thông đến sông Giang Thành (Hà Tiên, Kiên Giang cũ), tạo thành trục giao thông thủy và phòng thủ quan trọng ở khu vực Tây Nam.

kvt1_1773820373.jpg
Kênh Vĩnh Tế - công trình đào lớn nhất Việt Nam thời phong kiến. Ảnh: Internet

Công trình lớn của triều Nguyễn

Ngược dòng lịch sử, theo tác giả Nguyễn Văn Hầu trong cuốn “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang”, quan trấn thủ trấn Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại là người trực tiếp chỉ huy việc đào kênh Vĩnh Tế.

Theo “Quốc triều chính biên toát yếu”, năm 1816, sau khi thành Châu Đốc được đắp xong, vua Gia Long nhận thấy lợi thế của vùng đất này nên chủ trương mở đường thủy nối liền Châu Đốc với Hà Tiên để thuận lợi cho nông thương và củng cố vùng biên. 3 năm sau, tháng Chạp năm 1819, công trình được khởi công.

Để tạo nên một tuyến kênh thẳng giữa vùng hoang địa, người xưa áp dụng phương pháp thủ công đặc biệt: ban đêm rẽ sậy, đốt đuốc buộc trên đầu sào để xác định hướng, nhóm thợ đứng trên cao dùng cây rọi lớn ra hiệu căn chỉnh từng “sào lửa” vào đúng trục. Từ những dấu mốc thô sơ ấy, tuyến kênh dần được định hình.

Công trình kéo dài 5 năm, từ tháng Chạp năm 1819 đến tháng 5 năm 1824, chia làm 3 giai đoạn với hơn 80.000 nhân công tham gia. Kênh dài khoảng 87km, rộng trung bình 30m, sâu khoảng 2,55m; trong đó phần đào mới chiếm 37km.

Để đẩy nhanh tiến độ, nhiều thời điểm dân binh bị buộc làm việc xuyên đêm. Điều kiện thi công khắc nghiệt với đất đá vùng chân núi, thú dữ, dịch bệnh khiến thương vong lớn. Không ít trường hợp tai nạn lao động, thậm chí người đào kênh bị thú dữ tấn công hoặc thiệt mạng khi tìm cách bỏ trốn. Những câu chuyện về việc vượt sông Vàm Nao bằng thân chuối để tránh cá dữ vẫn được lưu truyền như một lát cắt khắc nghiệt của công cuộc đào kênh.

kvt3_1773820373.jpg
Điều kiện thi công khắc nghiệt, bệnh tật, thú dữ, thiếu thốn khiến nhiều người hy sinh. Ảnh: Internet

Về mặt biểu tượng, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), hình ảnh kênh Vĩnh Tế được chạm khắc trên Cao đỉnh - quốc bảo của triều Nguyễn, cho thấy vị thế đặc biệt của công trình này trong nhận thức đương thời.

kvt2_1773820373.jpg
Kênh Vĩnh Tế được khắc trên Cửu đỉnh ở nội thành Huế. Ảnh: Internet

“Đầu cầu chiến lược” xuyên suốt nhiều cuộc chiến

Theo cuốn “Từ kênh Vĩnh Tế đến kênh Võ Văn Kiệt”, ngay từ cuối thế kỷ XVIII, kênh Vĩnh Tế đã góp phần ngăn chặn các cuộc tiến công của quân Xiêm, giữ vững bờ cõi và sự ổn định lãnh thổ. Trải dài hơn một thế kỷ sau, đến thế kỷ XX, con kênh tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong các cuộc chiến tranh hiện đại, trở thành “đầu cầu chiến lược” của chiến trường Tây Nam Bộ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, khi Mỹ chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1973), Đồng bằng sông Cửu Long bị biến thành trọng điểm bình định với hệ thống kiểm soát dày đặc. Sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng cách mạng gặp nhiều khó khăn, các căn cứ bị thu hẹp, yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Tây trở nên cấp thiết.

Trước tình hình đó, Trung ương chủ trương củng cố lực lượng, mở rộng tuyến vận tải chiến lược. Tuyến đường 1C được hình thành, đóng vai trò huyết mạch vận chuyển hàng quân sự từ biên giới vào nội địa. Trong đó, kênh Vĩnh Tế trở thành “nút thắt” nguy hiểm bậc nhất.

Dọc tuyến kênh, đối phương bố trí hệ thống phòng thủ nhiều lớp với đồn bốt dày đặc, tàu chiến và ca nô tuần tra liên tục, ban đêm chiếu sáng như ban ngày. Ngoài ra, các thiết bị do thám và lực lượng biệt kích thường xuyên phục kích 2 bên bờ. Việc vượt kênh vì thế trở thành thử thách sinh tử đối với lực lượng vận tải.

Để bảo đảm thông tuyến, lực lượng thanh niên xung phong thuộc Đoàn 195 đã sử dụng xuồng nhỏ, ngụy trang bằng bèo, cỏ, thậm chí ngâm mình dưới nước, đẩy xuồng qua những đoạn dài hàng chục kilomet nhằm tránh sự phát hiện. Dù bị phong tỏa gắt gao từ cuối năm 1969, tuyến vận tải qua kênh Vĩnh Tế vẫn được duy trì.

Giai đoạn 1967-1974, hơn 13.650 tấn hàng hóa và trên 30.000 lượt cán bộ, chiến sĩ đã được vận chuyển qua khu vực này, góp phần quan trọng bảo đảm sức chiến đấu cho chiến trường Tây Nam Bộ.

kvt4_1773820372.jpg
Không chỉ là công trình thủy lợi, kênh Vĩnh Tế còn gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước. Ảnh: Internet

Trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam (1977-1979), kênh Vĩnh Tế tiếp tục là tuyến phòng thủ trọng yếu. Địa bàn Nhơn Hưng (An Giang) - nơi có hệ thống công sự kiên cố dọc kênh, đã trở thành “chốt thép” cản bước quân Pol Pot. Lực lượng dân quân địa phương tại đây đã chiến đấu hơn 70 trận, giữ vững địa bàn, góp phần bảo vệ vững chắc biên cương.

Trục dẫn nước chiến lược của Đồng bằng sông Cửu Long

Sau năm 1975, kênh tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chương trình khai thác Tứ giác Long Xuyên do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khởi xướng, góp phần biến vùng đất biên giới khô cằn thành vựa lúa trù phú của cả nước.

Dòng kênh cung cấp nước ngọt, phù sa cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời kết nối hệ thống kênh nội vùng như Trà Sư, Tha La, T3, T4, T5. Việc xây dựng các công trình dẫn nước từ kênh đã góp phần thay đổi điều kiện canh tác tại nhiều khu vực. Từ năm 1990, trạm bơm 3/2 đưa nước về các xã vùng cao thuộc Tịnh Biên, giúp tăng vụ sản xuất và nâng năng suất lúa. Đến năm 1997, việc hoàn thành kênh T5 (kênh Võ Văn Kiệt) tiếp tục mở rộng khả năng điều tiết nước. Chỉ trong một thập niên, sản lượng lúa của An Giang tăng từ 600.000 tấn lên 3 triệu tấn.

Trước khi có đường bộ, kênh là tuyến vận tải thủy huyết mạch nối Châu Đốc với Hà Tiên, giúp hàng hóa trong và ngoài nước lưu thông thuận tiện.

Những năm 1990 trở về trước, cư dân 2 bên bờ kênh sống dựa vào ruộng lúa và nguồn thủy sản phong phú. Nước sông trong, tôm cá dồi dào; chỉ cần đặt ngư cụ ven bờ mỗi ngày cũng thu được hàng chục ký cá. Ngày nay, vùng đất ven kênh đã trở thành khu dân cư trù phú, nhiều tuyến đô thị và nông thôn mới hình thành, tiếp tục hưởng lợi từ phù sa bồi đắp qua hàng trăm năm.

kvt5_1773820372.jpg
Kênh Vĩnh Tế góp phần cung cấp phù sa, tôm cá cho đồng ruộng. Ảnh: Internet

Năm 2025, kênh Vĩnh Tế được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Từ một công trình phòng thủ trấn biên, kênh Vĩnh Tế đã trở thành biểu tượng đa giá trị: vừa là “lá chắn” bảo vệ chủ quyền, vừa là “mạch sống” nuôi dưỡng và phát triển vùng đất Tây Nam Bộ suốt hơn 2 thế kỷ.

Anh Khôi