Chế biến sâu và phụ phẩm mở ra tiềm năng chưa khai thác của dừa Việt
Dù đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1,1 tỷ USD mỗi năm, ngành dừa Việt Nam vẫn chưa tạo được vị thế xứng tầm quốc tế khi mới chỉ chiếm khoảng 8% thị phần tại Trung Quốc. Để bứt phá và nâng cao giá trị cạnh tranh, việc tập trung vào công nghệ chế biến sâu cùng khai thác phụ phẩm hiện được xem là hướng đi tất yếu.
Những điểm nghẽn nội tại cản trở ngành dừa vươn tầm
Thực tế cho thấy khoảng cách về năng lực cạnh tranh của dừa Việt Nam so với các đối thủ như Indonesia hay Thái Lan ngày càng bộc lộ rõ qua những điểm nghẽn về sản xuất. Một trong những hạn chế lớn nhất là chất lượng sản phẩm chưa ổn định do tổ chức sản xuất còn phân tán và thiếu kiểm soát giống nghiêm ngặt. Tại nhiều địa phương, dừa lấy dầu và dừa uống nước vẫn được trồng xen kẽ, dẫn đến hiện tượng thụ phấn chéo, làm giảm độ thuần giống và khiến chất lượng trái không đồng đều.
Bên cạnh vấn đề chất lượng, quy mô sản xuất nhỏ lẻ cũng gây khó khăn trong việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Phần lớn diện tích dừa hiện do các hộ nông dân quản lý, thiếu sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp, dẫn đến chuỗi cung ứng rời rạc. Điều này làm tăng chi phí thu mua, phân loại đồng thời gây khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc từ thị trường nhập khẩu quốc tế.
Theo phân tích của TS Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn, việc tồn tại hai nhóm dừa chính trồng xen kẽ đang trực tiếp làm giảm năng suất và giá trị kinh tế. Ông Hải nhấn mạnh rằng sự thiếu quy hoạch trong canh tác khiến trái dừa Việt Nam khó đạt sự đồng nhất về chất lượng để phục vụ các đơn hàng xuất khẩu lớn. Khi sản xuất còn phân tán, quá trình xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt cũng trở nên mờ nhạt và thiếu sức cạnh tranh trên bản đồ toàn cầu.
Tiếp lời về vấn đề này, ông Nguyễn Đình Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group, nhận định rằng quy mô sản xuất manh mún là rào cản lớn đối với doanh nghiệp. Theo ông Tùng, khi sản xuất còn phân tán, việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn phục vụ xuất khẩu quy mô lớn gặp rất nhiều trở ngại. Đồng thời, quá trình thu mua và đóng gói sản phẩm cũng trở nên phức tạp hơn trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt tiêu chuẩn chất lượng.
Ngoài ra, chi phí logistics hiện là một gánh nặng đáng kể đối với doanh nghiệp xuất khẩu dừa tươi của Việt Nam. Do đặc thù sản phẩm có trọng lượng lớn và chiếm nhiều diện tích container, chi phí vận chuyển đến các thị trường xa như Hoa Kỳ hay châu Âu thường rất cao. Ông Nguyễn Đình Tùng nhấn mạnh thêm rằng thiếu một hệ thống logistics và bảo quản nông sản hoàn chỉnh đang trực tiếp làm giảm sức cạnh tranh của trái dừa Việt so với các quốc gia có chuỗi cung ứng tốt hơn.
Chiến lược chế biến sâu nâng tầm giá trị kinh tế tuần hoàn
Để hiện thực hóa mục tiêu đưa ngành dừa “hóa rồng”, việc tổ chức lại sản xuất theo hướng hình thành vùng nguyên liệu tập trung được xem là giải pháp then chốt. Ngành dừa cần áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như GlobalGAP hay Organic, đồng thời kiểm soát chặt chẽ giống cây trồng ngay từ đầu vào. Việc đẩy mạnh liên kết giữa nông dân với các hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ giúp xây dựng chuỗi cung ứng ổn định, đảm bảo đầu ra bền vững cho sản phẩm nông sản của địa phương.
Về vấn đề này, ông Cao Bá Đăng Khoa, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dừa Việt Nam, khẳng định rằng xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn là xu hướng tất yếu. Theo ông Khoa, các vùng trồng dừa cần được tổ chức lại theo hướng sản xuất tập trung và đáp ứng quy trình canh tác bền vững. Đặc biệt, vấn đề giống dừa hiện nay yêu cầu bắt buộc phải có chứng nhận đầu dòng và nguồn gốc gen rõ ràng, thay vì ươm theo phương thức truyền thống, để đảm bảo chất lượng trái đồng đều.
Bên cạnh đó, việc đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ chế biến sâu sẽ giúp tận dụng tối đa giá trị của trái dừa thay vì chỉ xuất khẩu thô. Thay vì tập trung vào dừa tươi vốn gặp khó về logistics, các sản phẩm giá trị gia tăng cao như mỹ phẩm hay thực phẩm chức năng cần được khai thác hiệu quả. Đây không chỉ là cách nâng cao kim ngạch xuất khẩu mà còn giúp ngành dừa giảm sự phụ thuộc vào các mặt hàng sơ chế, đồng thời khẳng định vị thế thương hiệu trên thị trường quốc tế.
Ông Cao Bá Đăng Khoa cũng chia sẻ thêm rằng nhiều doanh nghiệp hiện nay đã bắt đầu đầu tư công nghệ để tận dụng toàn bộ phụ phẩm của trái dừa. Từ xơ dừa, gáo dừa cho đến nước dừa đều có thể tạo ra những sản phẩm mới phục vụ nhiều lĩnh vực đời sống. Phát triển các sản phẩm tuần hoàn không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao giá trị toàn chuỗi ngành dừa, mang lại lợi nhuận cao hơn cho cả nông dân và doanh nghiệp tham gia sản xuất.
Dưới góc độ quản lý ngành, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết sản xuất xanh đang trở thành nền tảng mới với mục tiêu giảm 15% lượng phát thải. Việc ứng dụng các công nghệ như cấy mô hay cấy phôi để tạo giống chất lượng cao đang được khuyến khích nhằm hướng tới thị trường tín chỉ carbon. Các mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp và sử dụng biện pháp sinh học cũng đang được nhân rộng, nhằm tạo ra sản phẩm dừa sạch đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe nhất của thị trường.
Ông Nguyễn Đình Tùng nhận định rằng sự gắn kết chặt chẽ giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua các chuỗi giá trị sạch là yếu tố quyết định cho tương lai ngành dừa. Để phát triển bền vững, ngành dừa cần duy trì đối thoại thường xuyên giữa chính quyền và doanh nghiệp, cùng nhau tháo gỡ khó khăn về chính sách hay hạ tầng vận chuyển. Khi các yếu tố về công nghệ và logistics được triển khai đồng bộ, trái dừa Việt Nam chắc chắn sẽ khẳng định được vị thế vững chắc và bứt phá mạnh mẽ trong tương lai.