Vì sao chuỗi liên kết nguyên liệu ngành gỗ chưa thể bền vững?
Ngành chế biến gỗ Việt Nam đang đứng trước những cột mốc tăng trưởng đầy tự hào nhưng cũng đối mặt với thách thức gay gắt về áp lực nguyên liệu thô và rào cản phòng vệ thương mại quốc tế, đòi hỏi sự đổi mới toàn diện trong tư duy quản trị chuỗi giá trị.
Thực trạng áp lực nguồn cung và chuỗi giá trị
Năm 2025, ngành chế biến gỗ xuất khẩu của nước ta khép lại với dấu ấn ấn tượng khi kim ngạch vượt mốc 17 tỷ USD. Bước sang năm 2026, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 18,5 tỷ USD, phấn đấu vượt 19 tỷ USD nếu thị trường thuận lợi. Thế nhưng, đằng sau những con số tăng trưởng ấy, áp lực ngày càng đè nặng lên hệ thống nguyên liệu gỗ trong nước. Đây là yếu tố cốt lõi quyết định khả năng phát triển bền vững và sức cạnh tranh dài hạn của toàn ngành.
Nguồn cung nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu hiện đến từ hai kênh chính. Một là nguồn gỗ nhập khẩu từ các quốc gia có nền quản trị rừng phát triển. Hai là nguồn gỗ nội địa từ rừng trồng và cao su. Khi nhu cầu thị trường quốc tế gia tăng, áp lực dồn lên nguồn cung trong nước càng gay gắt. Các nhóm doanh nghiệp đang sử dụng những chủng loại nguyên liệu rất khác nhau tùy theo định hướng sản phẩm. Các đơn vị sản xuất đồ nội thất đòi hỏi gỗ đường kính lớn; nhà máy sản xuất ván dán sử dụng gỗ cỡ trung bình; trong khi các doanh nghiệp dăm gỗ và viên nén tận dụng cành ngọn và phụ phẩm.
Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp cùng dùng chung nguồn nguyên liệu keo, bạch đàn đang cạnh tranh trực tiếp với nhau. Tại khu vực phía Bắc, nguồn cung gỗ rừng trồng thiếu hụt trầm trọng sau bão lũ, khiến giá nguyên liệu tăng cao. Điều này tạo bất lợi lớn cho các doanh nghiệp chế biến ván và đồ gỗ so với nhóm sản xuất dăm gỗ. Không dừng lại ở đó, sự cạnh tranh còn diễn ra gay gắt ngay trong cùng một phân khúc sản phẩm. Những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và chủ động xây dựng vùng nguyên liệu qua hợp tác với người trồng rừng đang nắm giữ lợi thế vượt trội. Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ rơi vào thế bị động. Việc nhiều nhà đầu tư cùng dồn vốn vào một sản phẩm trên cùng địa bàn cũng gây mất cân đối giữa nguyên liệu và năng lực chế biến.
Nhìn nhận về những bất cập này, TS Hà Công Tuấn, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chỉ ra rằng vướng mắc về thể chế đang là rào cản khiến liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng chưa bền vững. Nước ta có khoảng 4 triệu ha rừng sản xuất, hơn 1 triệu hộ trồng rừng và hàng nghìn doanh nghiệp chế biến, nhưng số lượng chuỗi liên kết ổn định vẫn còn rất ít. Hệ quả là nguồn nguyên liệu bị phân tán, giao dịch chủ yếu qua thương lái, gây khó khăn cho việc truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các quy định khắt khe của thị trường quốc tế.
Khoảng 74% sản lượng gỗ rừng trồng hiện nay được sử dụng cho dăm gỗ và viên nén, khoảng 18% phục vụ sản xuất ván, trong khi chỉ khoảng 8% dành cho chế biến đồ gỗ nội, ngoại thất. Đây chính là dư địa rất lớn để toàn ngành chuyển dịch sang phát triển rừng gỗ lớn nhằm nâng cao giá trị gia tăng trên từng mét khối gỗ.
Chiến lược phát triển bền vững giải pháp tầm nhìn mới
Để giải quyết bài toán cốt lõi về nguyên liệu và gia tăng sức cạnh tranh, tư duy quản trị chính sách và chiến lược kinh doanh đòi hỏi sự đổi mới căn bản. Theo quan điểm của TS Hà Công Tuấn, định hướng chính sách cần chuyển dịch mạnh mẽ từ hỗ trợ trồng rừng đơn thuần sang phát triển đồng bộ chuỗi cung ứng. Trọng tâm là dịch chuyển từ hỗ trợ tác nhân riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái liên kết chuỗi giá trị. Trong đó, người trồng rừng phải trở thành đối tác sản xuất bình đẳng của doanh nghiệp; doanh nghiệp cần trực tiếp đầu tư vùng nguyên liệu từ giống, kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm. Hợp tác xã đóng vai trò cầu nối hiệu quả, đi kèm các chính sách ưu đãi về tín dụng, thuế và chứng chỉ rừng bền vững.
Bên cạnh thể chế, chuyển đổi số là nền tảng quan trọng để hình thành vùng nguyên liệu bền vững. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa vùng trồng, ứng dụng bản đồ số và nhật ký điện tử nhằm đáp ứng hoàn hảo yêu cầu truy xuất nguồn gốc quốc tế. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, định hướng chiến lược là phát triển mô hình rừng gỗ lớn gắn liền với nghiên cứu giống phù hợp, kéo dài chu kỳ khai thác từ 7 năm đến 10 năm. Các chuyên gia tính toán rằng nếu nâng đường kính gỗ lên trên 30 cm, giá trị kinh tế có thể tăng vọt từ 1,15 triệu đồng lên 4 triệu đến 6 triệu đồng mỗi mét khối, tạo bước đột phá kinh tế quan trọng.
Song song với đó, cộng đồng doanh nghiệp cũng chủ động triển khai nhiều định hướng hành động thiết thực. Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, chia sẻ rằng trong bối cảnh xuất khẩu 7 tháng đầu năm đạt 10,1 tỷ USD với mức tăng trưởng 4,9%, ngành gỗ đang vấp phải áp lực lớn tại thị trường Hoa Kỳ. Với quy mô nhập khẩu đồ nội thất lên tới 22 tỷ đến 24 tỷ USD mỗi năm, trong đó hàng Việt Nam chiếm trên 9 tỷ USD, thị trường này đặt ra thách thức về các biện pháp phòng vệ thương mại.
Để ứng phó, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đề ra 5 nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là giữ vững thị trường Hoa Kỳ thông qua việc rà soát chuỗi cung ứng, tăng cường đối thoại và cam kết tuyệt đối không tiếp tay cho gian lận xuất xứ, đồng thời nâng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu từ Hoa Kỳ lên 900 triệu USD trong năm nay để cân bằng thương mại. Ngành gỗ cũng chú trọng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và khai thác hiệu quả thị trường nội địa từ các dự án nhà ở xã hội, trường học.
Về phía cơ quan quản lý, Hiệp hội kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm thiết lập cơ chế trao đổi thường xuyên với phía Hoa Kỳ, xem xét bãi bỏ thuế xuất khẩu đối với gỗ xẻ và viên nén đen, xây dựng gói tín dụng ưu đãi và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính số hóa. Sự đồng bộ giữa chiến lược nguyên liệu bền vững và năng lực quản trị linh hoạt chính là chìa khóa vàng giúp ngành gỗ Việt Nam bứt phá mạnh mẽ trong giai đoạn mới.