Thanh long đẹp bán 2.000 đồng/kg, hàng dạt chẳng ai mua, trái cây tỷ đô giờ ra sao?
Từng mang về khoảng 1,3 tỷ USD xuất khẩu trong một năm, thanh long Việt Nam đang đối mặt nghịch cảnh khi giá thu mua tại vườn có thời điểm rơi xuống chỉ 1.000-3.000 đồng/kg.
Hơn một tuần qua, nhiều vùng trồng thanh long tại miền Tây và Lâm Đồng ghi nhận giá giảm mạnh khi bước vào vụ thu hoạch. Ông Trần Đình Trung, Giám đốc HTX Thanh long Thuận Tiến (xã Hàm Liêm, tỉnh Lâm Đồng), cho biết thanh long loại đẹp hiện chỉ được thương lái mua khoảng 2.000-3.000 đồng/kg. Những quả có lỗi nhẹ còn khoảng 1.000 đồng/kg, trong khi một số loại hàng dạt gần như không có người mua.
Tại các vùng trồng thuộc Long An, Tiền Giang trước đây, giá mua xô phổ biến khoảng 3.000-6.000 đồng/kg. Nếu phân loại, hàng đẹp có thể đạt 5.000-7.000 đồng/kg nhưng hàng dạt chỉ khoảng 1.000 đồng/kg.
Mức giá này tạo sức ép lớn cho người trồng khi các khoản chi phí phân bón, điện chong đèn, thuốc bảo vệ thực vật, nhân công và vận chuyển vẫn phải duy trì.
Theo ông Nguyễn Khắc Huy, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Phát Fruit, giá thanh long giảm mạnh trong mùa thuận không phải hiện tượng mới mà đã lặp lại trong những năm gần đây. “Khi cùng lúc có lượng hàng lớn đưa ra thị trường, giá chịu áp lực giảm là điều khó tránh khỏi”, ông Huy nói.
Trung Quốc cũng tăng sản xuất
Trong nhiều năm, thanh long Việt Nam hưởng lợi từ khả năng sản xuất quy mô lớn và kỹ thuật chong đèn, cho phép điều khiển thời điểm ra hoa, cung cấp sản phẩm gần như quanh năm.
Tuy nhiên, lợi thế này đang bị thu hẹp khi Trung Quốc - thị trường tiêu thụ quan trọng nhất - cũng mở rộng sản xuất thanh long tại Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam và một số khu vực có điều kiện phù hợp.
Điều đáng chú ý là mùa thu hoạch tại Trung Quốc có thời điểm trùng với vụ thuận của Việt Nam. Khi cả hai nguồn cung cùng tăng, thanh long Việt Nam không còn dễ dàng hưởng lợi từ tình trạng thiếu hàng tại thị trường nhập khẩu như trước.
Không chỉ Trung Quốc, nhiều nước như Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và một số quốc gia Mỹ Latinh cũng đang phát triển loại quả này. Vì thế, sự cạnh tranh đang diễn ra ngay tại những thị trường mà thanh long Việt Nam từng có lợi thế.
Từ 1,3 tỷ USD xuống dưới 500 triệu USD
Sự thay đổi vị thế thể hiện rõ qua kim ngạch xuất khẩu. Theo số liệu được cung cấp từ Cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thanh long đạt 288,7 triệu USD. Riêng tháng 6 đạt khoảng 24,8 triệu USD, giảm 43,4% so với tháng trước và giảm 3,6% so với cùng kỳ.
Năm 2025, xuất khẩu thanh long chỉ còn gần 500 triệu USD, mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ. Con số này cách rất xa mức khoảng 1,3 tỷ USD của năm 2018.
Trong khi đó, Trung Quốc vẫn chiếm hơn 62% giá trị xuất khẩu thanh long Việt Nam trong năm 2025. Việc phụ thuộc lớn vào một thị trường khiến biến động nguồn cung và nhu cầu tại đây nhanh chóng tác động ngược trở lại giá thanh long trong nước.
Trong bối cảnh chung, xuất khẩu rau quả Việt Nam vẫn tăng trưởng mạnh. Tám tháng đầu năm 2026, kim ngạch rau quả đạt khoảng 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy vấn đề của thanh long không nằm ở sức hấp dẫn chung của trái cây Việt Nam, mà nằm ở năng lực cạnh tranh riêng của ngành hàng.
Nghịch lý là trong lúc thanh long đại trà rớt giá, sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính vẫn có giá cao. Tại HTX Thanh long Thuận Tiến, thanh long đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Nhật Bản được thu mua hơn 20.000 đồng/kg. Hoàng Phát Fruit cũng mua thanh long đạt yêu cầu của khách hàng Nhật với giá khoảng 25.000 đồng/kg tại vườn. Khoảng cách lên tới hàng chục lần cho thấy thị trường đang phân hóa mạnh, sản lượng lớn không còn đồng nghĩa với giá trị cao.
Theo các doanh nghiệp, thanh long cần giảm phụ thuộc vào một thị trường, tổ chức lại mùa vụ để tránh thời điểm cạnh tranh trực tiếp với nguồn cung Trung Quốc, đồng thời nâng chất lượng, tăng chế biến và mở rộng các kênh tiêu thụ.
Bài toán của thanh long Việt Nam không chỉ là giải cứu một vụ thu hoạch. Sau thời kỳ từng được xem là “trái cây tỷ đô”, ngành hàng này phải tìm một lợi thế mới dựa trên chất lượng, tiêu chuẩn và khả năng tiếp cận thị trường, thay vì chỉ dựa vào sản lượng và quy mô.