Tạo đột phá thể chế để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển

Tiêu điểm 20/04/2026 08:35

Hôm nay, 20/4, Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI bước vào đợt làm việc thứ hai, trong đó có nội dung thảo luận ở tổ dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Nếu chúng ta thực sự coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, là trụ cột và hệ điều tiết của phát triển nhanh, bền vững, thì nhận thức đó cần được chuyển hóa thành cơ chế pháp lý đủ mạnh, đủ rõ, đủ khả thi.

van-hoa_1776648688.jpg
Ảnh minh họa.

Văn hóa được nhìn như một hệ sinh thái phát triển

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị đã đặt ra tầm nhìn mới cho phát triển văn hóa Việt Nam; giờ đây dự thảo Nghị quyết của Quốc hội nỗ lực thể chế hóa tinh thần ấy bằng những chính sách cụ thể hơn. Việc thể chế hóa một hành lang phát triển văn hóa ngay từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI mang ý nghĩa không chỉ với riêng ngành văn hóa, mà còn gắn với bài toán chiến lược của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Điều đáng ghi nhận trước hết là dự thảo Nghị quyết cho thấy một tư duy khá rõ: văn hóa được nhìn như một hệ sinh thái phát triển, nơi có thiết chế, có hạ tầng, có thị trường, có đầu tư, có công nghệ, có nhân lực, có cơ chế thu hút khu vực tư nhân và có trách nhiệm của Nhà nước trong dẫn dắt, kiến tạo. Chỉ riêng việc xác lập nguyên tắc Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hàng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển, đồng thời bảo đảm kinh phí cho Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, đã là một bước tiến rất quan trọng. Một khi nguồn lực được nêu thành nguyên tắc có tính ràng buộc chính sách, vị thế của văn hóa trong cơ cấu ưu tiên quốc gia sẽ khác đi.

Dự thảo Nghị quyết đã mạnh dạn chạm vào khu vực vốn lâu nay được xem là khó nhất: cơ chế đầu tư và cơ chế đặc thù cho các công trình văn hóa, thể thao. Dự thảo cho phép cơ quan có thẩm quyền quyết định giao cho tổ chức, cá nhân có uy tín, kinh nghiệm, năng lực vượt trội thực hiện các dự án, gói thầu thuộc công trình trọng điểm về văn hóa, thể thao có yêu cầu đặc biệt về kiến trúc, kỹ thuật, mỹ thuật; đồng thời cho phép áp dụng quy trình chỉ định thầu rút gọn trong những trường hợp nhất định.

Nhìn ở chiều tích cực, đây là sự thừa nhận đúng bản chất của công trình văn hóa. Một nhà hát, một bảo tàng, một trung tâm biểu diễn, một công trình biểu tượng không thể chỉ được nhìn như một khối bê tông cốt thép. Ở đó có hồn cốt thẩm mỹ, có yêu cầu sáng tạo, có dấu ấn biểu trưng, có tác động lâu dài đến ký ức đô thị và hình ảnh quốc gia. Nếu cứ áp dụng máy móc logic của mọi công trình xây dựng thông thường, chúng ta rất khó có được những công trình văn hóa xứng tầm.

Dự thảo Nghị quyết đang đi đúng hướng khi đặt vấn đề này. Và từ đây, có thể khuyến nghị thêm một bước mạnh dạn hơn: nghiên cứu cơ chế dành tỷ lệ thích đáng trong tổng mức đầu tư của các dự án hạ tầng công cộng lớn cho hạng mục nghệ thuật, mỹ thuật công cộng và thiết kế văn hóa. Khi cầu đường, quảng trường, ga tàu, công viên, khu hành chính, trường học, bệnh viện, không gian công cộng được tích hợp yếu tố nghệ thuật ngay từ đầu, chúng ta không chỉ làm đẹp môi trường sống mà còn mở ra một thị trường sáng tạo lành mạnh cho nghệ sĩ, kiến trúc sư, nhà điêu khắc, nhà thiết kế; đồng thời nâng tầm thẩm mỹ của xã hội một cách bền vững.

Hài hòa giữa bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển công nghiệp văn hóa

Nếu điểm nhấn thứ nhất của dự thảo là nguồn lực, thì điểm nhấn thứ hai chính là tư duy phát triển công nghiệp văn hóa. Đây là một chuyển động rất đáng mừng. Dự thảo Nghị quyết không chỉ nêu nguyên tắc chung, mà đã bước đầu hình dung được các cấu phần của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa: cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa; hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng; hỗ trợ thuế, phí, lệ phí đối với đầu tư vào hạ tầng số, công nghệ cao cho văn hóa và các ngành trọng tâm như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, trò chơi điện tử trên mạng; hợp tác công tư đối với một số thiết chế văn hóa, thể thao; hỗ trợ quảng bá và xuất khẩu sản phẩm văn hóa ra nước ngoài.

Đây không phải là những chi tiết kỹ thuật đơn lẻ, mà là những viên gạch đầu tiên để hình thành một thị trường văn hóa hiện đại hơn. Nghị quyết 80 đã xác định rõ mục tiêu phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, từng bước hình thành các thương hiệu văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo có tầm vóc khu vực và quốc tế. Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội vì thế có thể xem là bước đi nối tiếp rất cần thiết để chuyển tinh thần chỉ đạo đó thành công cụ chính sách.

Nhà nước đã bắt đầu nhìn nhận văn hóa như một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, cần được khuyến khích bằng các ưu đãi thực chất. Với những lĩnh vực có khả năng lan tỏa mạnh như điện ảnh, thiết kế sáng tạo, mỹ thuật ứng dụng, bảo tàng tư nhân, không gian sáng tạo cộng đồng, công nghiệp nội dung số, biểu diễn nghệ thuật chất lượng cao, chúng ta cần những ưu đãi đủ hấp dẫn để kéo được đầu tư xã hội, nuôi được đội ngũ sáng tạo và tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh. Khi một tác phẩm điện ảnh thành công; khi một không gian sáng tạo làm sống lại một khu phố cũ; khi một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp trở thành thương hiệu điểm đến; khi một sản phẩm thiết kế mang bản sắc Việt Nam chinh phục thị trường quốc tế, thì lợi ích mang lại không dừng ở doanh thu trực tiếp, mà lan sang rất nhiều lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội.

Dù mở đường cho công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, dự thảo Nghị quyết vẫn giữ được trục giá trị căn cốt của văn hóa dân tộc, thông qua các quy định về ưu tiên nguồn lực cho văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống, bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm; đầu tư xây dựng, nâng cấp đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ văn hóa, nghệ thuật truyền thống; bảo đảm thời lượng phát sóng các chương trình văn hóa nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống… Nếu chỉ nói đến tăng trưởng của công nghiệp văn hóa mà không chăm lo cho cội nguồn, cho di sản, cho ký ức văn hóa, thì sự phát triển ấy khó bền vững. Ngược lại, nếu chỉ giữ gìn mà không tìm được cách làm cho di sản sống trong đời sống đương đại, tạo sinh kế cho cộng đồng và trở thành chất liệu cho sáng tạo mới, thì chúng ta cũng khó đi xa. Bảo tồn để phát triển, phát triển để nuôi dưỡng giá trị bền sâu của văn hóa dân tộc.

Nhưng suy cho cùng, nền tảng bền vững nhất của mọi chiến lược văn hóa vẫn là con người. Các chính sách về tài năng và nhân lực đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, từ cơ chế tuyển dụng không qua thi tuyển đối với một số nghệ sĩ, vận động viên tài năng, du học sinh được đào tạo bằng ngân sách nhà nước; đến hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và sáng tạo nội dung số… cho thấy chuyển động chính sách đáng trân trọng: bắt đầu nhìn người làm văn hóa đúng như một lực lượng sáng tạo đặc thù, cần được đãi ngộ xứng đáng, cần một môi trường phát triển phù hợp, chứ không thể áp dụng cơ học mọi tiêu chí của khu vực hành chính thông thường. Nếu chính sách nhân lực được làm tốt, nhiều “điểm nghẽn mềm” của văn hóa sẽ dần được tháo gỡ. Và khi con người được khích lệ, được tin cậy, được bảo vệ, sáng tạo sẽ có đất để nảy nở.

Chúng ta đang đứng trước một cơ hội hiếm có để tạo đột phá thể chế cho văn hóa ngay ở đầu nhiệm kỳ. Nếu làm tốt, Nghị quyết này có thể trở thành một dấu mốc quan trọng, mở ra giai đoạn mới trong tư duy phát triển đất nước: văn hóa không còn đứng sau để “hưởng thành quả” của tăng trưởng, mà đi cùng, thậm chí đi trước, để tạo ra chiều sâu, bản sắc, chất lượng và sức bền cho tăng trưởng ấy.

Nguồn: Theo Bùi Hoài Sơn (daibieunhandan.vn)