Sầu riêng Việt Nam bứt tốc, sẵn sàng chinh phục mốc 4 tỷ USD

Thị Trường 07/09/2026 15:03

Tại phiên họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026, bức tranh xuất khẩu nông sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận điểm sáng nổi bật từ ngành hàng sầu riêng. Bằng nỗ lực tháo gỡ vướng mắc tận gốc và chiến lược định hình lại chuỗi giá trị, mặt hàng này đang vững bước hướng tới kỷ lục kim ngạch 4 tỷ USD, khẳng định vị thế chủ lực trong cơ cấu nông sản xuất khẩu của quốc gia.

xb_1788767755.webp
Nhìn lại chặng đường 5 năm qua, sầu riêng Việt Nam đã có một cú nhảy vọt mang tính lịch sử về giá trị kinh tế.

Hành trình bứt phá và những nỗ lực gỡ khó từ nền tảng

Thông tin từ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho thấy, xuất khẩu nông sản Việt Nam đang trong giai đoạn thăng hoa ấn tượng. Tính chung 7 tháng đầu năm và đặc biệt trong tháng 8/2026, toàn ngành đã ghi nhận sự tăng trưởng đột biến với mức kim ngạch ước đạt khoảng 49,3 tỷ USD. Đóng góp vào thành tích chung đó, sầu riêng vươn lên trở thành một trong những nông sản có giá trị cao nhất, với quy mô vùng trồng lên tới 200.000 ha và sản lượng cung cấp ra thị trường đạt khoảng 2,08 triệu tấn.

Nhìn lại chặng đường 5 năm qua, sầu riêng Việt Nam đã có một cú nhảy vọt mang tính lịch sử về giá trị kinh tế. Từ con số khá khiêm tốn 177 triệu USD vào năm 2021, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này đã tăng bứt tốc lên mức 3,85 tỷ USD vào năm 2025. Sức bật này đã đưa sầu riêng trở thành sản phẩm cốt lõi, gánh vác tới 40% tổng giá trị xuất khẩu của toàn ngành trồng trọt. Đi sâu vào bức tranh của 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng ước đạt 1,95 tỷ USD; trong đó, Trung Quốc tiếp tục khẳng định vị thế là đối tác tiêu thụ chiến lược khi đóng góp 1,85 tỷ USD, chiếm gần 95% thị phần. Những con số biết nói này chính là cơ sở vững chắc để ngành nông nghiệp hướng tới mục tiêu duy trì kim ngạch xuất khẩu năm 2026 tối thiểu bằng mức năm ngoái và tự tin tiến tới cột mốc 4 tỷ USD.

Tuy nhiên, sự tăng trưởng này không tự nhiên mà có. Nó là kết quả từ những nỗ lực tháo gỡ khó khăn trực tiếp tại cơ sở của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Các đoàn công tác đã liên tục bám sát địa bàn, làm việc trực tiếp tại các vùng trồng trọng điểm trải dài từ Tây Nguyên, Đông Nam Bộ đến Tây Nam Bộ để xử lý dứt điểm các vướng mắc phát sinh. Về khía cạnh chính sách, Bộ đã chủ động trình Chính phủ ban hành Nghị quyết 36, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để gỡ vướng trong việc cấp mã số vùng trồng cho tất cả các loại cây trồng, nhận được sự đồng thuận lớn từ giới doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tư duy quản lý cũng được đổi mới khi công tác thẩm định, cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ về tận cấp xã, phường; giúp xử lý nhanh chóng cả những vướng mắc phức tạp như cấp mã cho diện tích trồng xen canh.

Sự minh bạch hóa chuỗi cung ứng cũng là một điểm sáng mang tính bước ngoặt. Từ ngày 1/7, hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa toàn diện đã chính thức được vận hành. Mọi dữ liệu từ khâu trồng trọt, chăm sóc, sử dụng phân bón đến khi thu hoạch, đóng gói đều được minh bạch, giúp người tiêu dùng và đối tác dễ dàng truy cập. Giải pháp này không chỉ củng cố niềm tin vững chắc cho thị trường mà còn được giới chuyên môn, đặc biệt là các tham tán thương mại của Mỹ và Trung Quốc đánh giá rất cao. Cùng với những nỗ lực ngoại giao kinh tế, chỉ trong giữa tháng 8 vừa qua, sau các cuộc làm việc trực tiếp với Tổng cục Hải quan Trung Quốc, phía nước bạn đã chính thức cấp thêm 567 mã số vùng trồng mới. Thành quả này nâng tổng số lên 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói sầu riêng đạt chuẩn trên phạm vi toàn quốc.

Nhận diện thách thức và 5 nhóm giải pháp định hình chuỗi giá trị

cp_1788768122.png
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong, Người phát ngôn của Chính phủ, chủ trì họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026 - Ảnh: VGP/QP

Dù bức tranh xuất khẩu đang mang nhiều gam màu sáng, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường vẫn thẳng thắn nhìn nhận đà tăng trưởng của ngành hàng sầu riêng đang phải đối mặt với 3 rào cản lớn. Thứ nhất, quy mô mở rộng nhanh nhưng lại thiếu sự gắn kết chặt chẽ vào chuỗi giá trị; một số địa phương còn tồn tại tình trạng phát triển tự phát, dẫn đến đứt gãy kết nối giữa sản xuất, logistics và xuất khẩu. Thứ hai, các thị trường nhập khẩu đang không ngừng siết chặt những yêu cầu kỹ thuật khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm cũng như dữ liệu truy xuất nguồn gốc. Thứ ba, sức ép cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt, đặc biệt là từ các đối thủ lớn trong khu vực như Thái Lan và Malaysia.

Để giải quyết triệt để những điểm nghẽn này và kiến tạo một hệ sinh thái phát triển bền vững, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã định hình 5 nhóm giải pháp trọng tâm cho giai đoạn tới.

Nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Bộ sẽ tiếp tục khơi thông đàm phán mở rộng các thị trường tiềm năng như Úc, New Zealand và thị trường tỷ dân Ấn Độ (nơi vừa chính thức mở cửa cho sầu riêng Việt Nam từ tháng 7). Đồng thời, chiến lược gia tăng tỷ trọng sầu riêng đông lạnh, sản phẩm chế biến sâu và nâng cấp năng lực dự báo thị trường cũng sẽ được chú trọng.

Nhóm giải pháp thứ hai hướng đến việc tổ chức lại sản xuất để xây dựng vùng nguyên liệu bền vững. Cơ quan chức năng sẽ rà soát lại toàn bộ quy hoạch để đảm bảo sự phù hợp tuyệt đối về thổ nhưỡng. Mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ được thắt chặt hơn. Đặc biệt, việc khuyến khích các doanh nghiệp rót vốn đầu tư vào hệ thống hạ tầng sơ chế, chế biến và bảo quản sẽ là chìa khóa quan trọng để giảm thiểu tỷ lệ thất thoát sau khi thu hoạch.

Song song đó, công tác chuẩn hóa chất lượng và chuyển đổi số sẽ tiếp tục được nâng cấp. Hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa sẽ được hoàn thiện cho toàn bộ quy trình sản xuất, qua đó đảm bảo đáp ứng được mọi tiêu chuẩn kiểm dịch và an toàn thực phẩm khắt khe nhất từ phía đối tác. Để giải bài toán chi phí, việc phát triển hạ tầng logistics cũng được đặc biệt quan tâm. Các nhà đầu tư được khuyến khích xây dựng hệ thống kho lạnh, trung tâm logistics ngay tại vùng sản xuất tập trung, kết hợp với việc đa dạng hóa phương thức vận tải nhằm tối ưu hóa chi phí và gia tăng sức cạnh tranh về giá.

Cuối cùng, khâu kiểm nghiệm chất lượng sẽ được hiện đại hóa thông qua chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa. Việc đầu tư, nâng cấp các phòng thí nghiệm đạt chuẩn sẽ được mở rộng, tập trung vào việc mở rộng danh mục kiểm nghiệm đối với các chỉ tiêu nhạy cảm như dư lượng cadimi hay vàng ô... Đáng chú ý, bằng những nỗ lực đàm phán bền bỉ, Việt Nam đã thuyết phục thành công phía Trung Quốc chấp thuận kết quả của 52 phòng kiểm nghiệm nội địa, và con số này được định hướng sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ trong thời gian tới, tạo đường băng thông thoáng nhất cho nông sản Việt cất cánh.

Phạm Anh