Nông sản Việt Nam trong hành trình nâng cao giá trị xuất khẩu
Năm 2026 được xem là giai đoạn bản lề khi ngành nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm có tiêu chuẩn cao và câu chuyện thương hiệu rõ ràng. Với mục tiêu kim ngạch 74 tỷ USD, nông sản Việt đang nỗ lực vượt qua rào cản thuế quan, biến đổi khí hậu để khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
Áp lực từ rào cản kỹ thuật và biến động thị trường toàn cầu
Năm 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngành nông nghiệp trong bối cảnh quốc tế xuất hiện nhiều xung đột vũ trang và căng thẳng thương mại gia tăng. Các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm ngày càng nghiêm ngặt, trong khi ở trong nước, sản xuất nông nghiệp phải chịu tác động nặng nề của thiên tai và thời tiết cực đoan. Thiệt hại do thiên tai trong năm 2025 lên tới 100,9 nghìn tỷ đồng, riêng lĩnh vực thủy sản bị ảnh hưởng khoảng 1.500 ha. Chăn nuôi chịu tác động kép từ dịch bệnh và biến động giá cả, còn trồng trọt cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng trên diện rộng.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết hoạt động xuất khẩu nông sản trong năm 2025 đối mặt với nhiều biến động phức tạp. Quý I/2025 chịu tác động khi Trung Quốc siết chặt kiểm nghiệm các chất như cadimi hay Rhodamine B, khiến xuất khẩu rau quả, đặc biệt là sầu riêng, bị gián đoạn. Sang quý II, thị trường Hoa Kỳ áp thuế đối ứng lên hàng hóa nhập khẩu, tạo thêm áp lực lớn cho doanh nghiệp. Đến quý IV, trong bối cảnh mưa bão kéo dài, việc vận chuyển nông sản lên các cửa khẩu tiếp tục rơi vào tình trạng ùn ứ và ách tắc thường xuyên.
Theo ông Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Môi trường, dù năm 2025 Hoa Kỳ áp dụng một số biện pháp thuế đối ứng đối với hàng hóa Việt Nam nhưng xuất khẩu sang thị trường này vẫn duy trì được tăng trưởng. Kết quả này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động thích ứng thông qua tái cơ cấu sản phẩm, điều chỉnh chiến lược thị trường và tận dụng hiệu quả các ưu đãi thương mại. Tuy nhiên, việc một số mặt hàng vẫn phụ thuộc lớn vào một vài thị trường chủ lực đang đặt ra yêu cầu tiếp tục đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng.
Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Thanh Bình nhận định việc mở rộng thị trường xuất khẩu luôn đặt ra không ít thách thức. Các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và quy chuẩn kỹ thuật khắt khe tại Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn là rào cản lớn đối với nông sản Việt. Thực tế nhiều lô hàng từng bị cảnh báo về dư lượng hóa chất cho thấy việc tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện sống còn. Bên cạnh đó, biến động chi phí logistics, tỷ giá cùng tác động của thời tiết cực đoan cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định ngoại giao kinh tế được xác định là một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu nhằm hỗ trợ ngành nông nghiệp. Bộ Ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy hội nhập sâu rộng của nông nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Điểm nhấn đáng chú ý là việc triển khai Đề án phát triển ngành Halal đến năm 2030, qua đó mở ra nhiều thị trường mới, đặc biệt tại khu vực Trung Đông và châu Phi, tạo thêm dư địa tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Chiến lược chuẩn hóa vùng nguyên liệu và thúc đẩy chế biến sâu
Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương Đảng và Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động, linh hoạt trong điều hành nhằm giữ ổn định sản xuất. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh toàn ngành đã hoàn thành và vượt 9/9 chỉ tiêu Chính phủ giao, với mức tăng trưởng đạt 3,78%. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,09 tỷ USD, xuất siêu đạt 20,72 tỷ USD. Các số liệu cho thấy sản lượng lúa gạo đạt 43,57 triệu tấn; chăn nuôi đạt 8,67 triệu tấn thịt hơi; thủy sản đạt 9,95 triệu tấn, trong khi lâm nghiệp đạt khoảng 34 triệu m³ gỗ khai thác.
Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung thúc đẩy chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp lớn như Nafoods, TH, Dabaco hay Masan đã mở rộng đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Đến nay, cả nước có gần 8.000 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và khoảng 22.000 cơ sở nhỏ phục vụ thị trường nội địa. Tổng công suất thiết kế đạt trên 160 triệu tấn nguyên liệu mỗi năm, trong khi tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu tăng từ khoảng 20% năm 2020 lên trên 30% vào năm 2025.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết Bộ đang tập trung tháo gỡ các rào cản về thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật và truy xuất nguồn gốc. Xuất khẩu không chỉ tăng về lượng mà còn phải tăng về chất, về thương hiệu và giá trị. Các chuyến công tác của lãnh đạo Bộ tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp và Trung Quốc đều hướng tới mục tiêu cụ thể là mở rộng hợp tác, thu hút nguồn lực công nghệ. Mỗi chuyến đi đều được yêu cầu chuyển hóa thành các chương trình, dự án và kết quả thực chất phục vụ phát triển ngành một cách bền vững.
Cũng theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, trong năm 2025 Việt Nam đã ký với Trung Quốc 5 nghị định thư để xuất khẩu các mặt hàng như ớt, chanh leo, cám gạo, tổ yến thô và mít tươi. Các nghị định thư này không chỉ mở rộng danh mục nông sản xuất khẩu chính ngạch mà còn góp phần nâng cao tính ổn định và minh bạch cho hoạt động xuất khẩu. Qua đó, niềm tin của nông dân và doanh nghiệp được củng cố, tạo động lực sản xuất theo tiêu chuẩn và tăng cường liên kết chuỗi giá trị nhằm đáp ứng yêu cầu từ các đối tác quốc tế.
Ông Nguyễn Thanh Bình cho biết thêm Hiệp hội Rau quả Việt Nam đang đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp hội viên với các địa phương và vùng nguyên liệu. Hoạt động xúc tiến thương mại, tham gia hội chợ và triển lãm quốc tế được triển khai hiệu quả, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và tiếp cận thêm khách hàng mới. Trên nền tảng hiện có, Hiệp hội nhận định xuất khẩu rau quả năm 2026 hoàn toàn có thể đạt mốc 10 tỷ USD nếu tiếp tục nâng cao chất lượng, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh quảng bá sản phẩm.
Ngành nông nghiệp đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt từ 73 đến 74 tỷ USD và tiếp tục kiên định định hướng mở cửa thị trường. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định Bộ sẽ tập trung triển khai chuỗi giải pháp đồng bộ theo trục chiến lược vùng nguyên liệu và tiêu chuẩn, chế biến và logistics thị trường. Việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo nhu cầu thực tế, mở rộng mã số vùng trồng sẽ góp phần bảo đảm an toàn thực phẩm. Đồng thời, chuyển đổi xanh và đo lường, giảm dấu chân carbon được xác định là điều kiện tiên quyết để nông sản Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào các chuỗi bán lẻ cao cấp trên toàn cầu.