Huy động 13.000 lao động, kỹ sư và công nhân Việt Nam đào đắp 14,673 triệu m³ đất đá, xây ‘siêu công trình’ lớn nhất Đông Nam Á, lập hàng loạt kỷ lục ‘độc nhất vô nhị’
Đây là công trình lớn nhất Việt Nam, lớn nhất khu vực Đông Nam Á, hoàn toàn do kỹ sư và công nhân Việt Nam thiết kế, thi công.
Năm 2005, dự án Thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, được khởi công tại huyện Mường La cũ, tỉnh Sơn La với tổng mức đầu tư khoảng 60.000 tỷ đồng. Sau hơn 7 năm thi công, đến ngày 23/12/2012, nhà máy chính thức khánh thành, xác lập vị thế là công trình thủy điện có quy mô lớn nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.
Công trình của những kỷ lục đáng tự hào
Thủy điện Sơn La được xây dựng trên sông Đà với đập bê tông đầm lăn dài 961m, cao 138m, rộng 102m, tạo hồ chứa dung tích khoảng 9,3 tỷ m³ nước. Công suất lắp đặt của nhà máy đạt 2.400 MW, gồm 6 tổ máy (mỗi tổ 400 MW), sản lượng điện trung bình năm 10,246 tỷ kWh, trong đó góp phần tăng thêm 1,267 tỷ kWh cho Thủy điện Hòa Bình.
Nhà máy nằm ở bậc thang thứ 2 trong hệ thống thủy điện trên thượng lưu sông Đà. Với công suất 2.400 MW, công trình giữ vị trí lớn nhất trong chuỗi này, vượt Thủy điện Hòa Bình (1.920 MW) và Thủy điện Lai Châu (1.200 MW), đồng thời dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô công suất.
Ngoài nhiệm vụ phát điện, công trình còn tham gia điều tiết lũ mùa mưa, bổ sung nguồn nước mùa kiệt cho đồng bằng Bắc Bộ, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và ổn định sản xuất nông nghiệp.
Theo tư liệu của ngành điện lực, năm 1984, ngành Điện đã bắt đầu lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án thủy điện Sơn La. Ngày 29/6/2001, Quốc hội ban hành Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án. Đến tháng 12/2002, báo cáo nghiên cứu khả thi được thông qua tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI. Năm 2003, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hoàn thiện phương án thiết kế với 3 bậc thang trên sông Đà.
Quyết định lựa chọn phương án mực nước dâng 215m đặt trọng tâm vào yêu cầu an toàn cho vùng hạ du, trong đó có khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội. Các phương án thiết kế được cân nhắc trên cơ sở hiệu quả kinh tế, khả năng chống lũ và mức độ an toàn công trình.
Ngày 15/1/2004, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư dự án, đồng thời thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước. Các hạng mục quan trọng như kênh dẫn dòng được triển khai từ tháng 3/2004, tạo tiền đề cho giai đoạn thi công chính thức.
Ngày 2/12/2005, công trình chính thức khởi công và tiến hành ngăn sông Đà đợt 1. Đến tháng 11/2005, hệ thống dẫn dòng hoàn tất, đảm bảo điều kiện thi công. Thủy điện Sơn La được xây dựng với đập bê tông đầm lăn (RCC) - giải pháp kỹ thuật hiện đại trong xây dựng đập thủy điện quy mô lớn, giúp rút ngắn tiến độ và kiểm soát tốt ứng suất nhiệt trong khối bê tông. Đây là bước tiến đáng chú ý trong năng lực thiết kế, thi công các công trình thủy công tại Việt Nam.
Toàn bộ dự án do các đơn vị trong nước đảm nhận từ thiết kế, thi công đến lắp đặt. Chủ đầu tư là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN); tổng thầu xây lắp là Tập đoàn Sông Đà, cùng sự tham gia của các nhà thầu như LILAMA, Trường Sơn, LICOGI. Các khâu thiết kế, thi công chủ yếu do kỹ sư, công nhân Việt Nam thực hiện; chuyên gia nước ngoài tham gia với vai trò giám sát. Đây là công trình thu hút số lượng lớn nhà thầu và đơn vị thi công tham gia trong lĩnh vực thủy điện tại Việt Nam.
Trong giai đoạn cao điểm, công trường huy động hơn 12.000-13.000 lao động. Tổng khối lượng thi công bao gồm 14,673 triệu m³ đất đá đào đắp, 4,920 triệu m³ bê tông (trong đó có 2,682 triệu m³ bê tông đầm lăn). Khối lượng khoan phun gia cố và chống thấm đạt 109.400 mét dài; tổng khối lượng thiết bị lắp đặt khoảng 72.000 tấn.
Công trình sử dụng kết cấu đập bê tông trọng lực cao 138,1m, chiều dài đỉnh đập 961,6m, bố trí 12 khoang xả sâu và 6 khoang xả mặt. Hồ chứa có dung tích 9,26 tỷ m³, mực nước dâng bình thường 215m, mực nước gia cường 217,83m và mực nước chết 175m.
Nhờ kinh nghiệm tổ chức, năng lực thi công và tiến độ triển khai đồng bộ của các đơn vị, dự án đã hoàn thành sớm hơn kế hoạch 3 năm, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và an toàn vận hành. Tổ máy số 1 phát điện vào cuối năm 2010; đến tháng 9/2012, cả 6 tổ máy đã lần lượt hòa lưới điện quốc gia. Trước đó, theo Nghị quyết của Quốc hội, dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2015.
Đây cũng là “cuộc cách mạng” di dân lớn nhất từ trước đến nay trong lịch sử thi công các công trình thủy điện ở Việt Nam. Hơn 20.000 hộ dân, tương đương trên 95.700 nhân khẩu thuộc các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu phải di dời để phục vụ xây dựng công trình. Đến nay, các khu tái định cư đã ổn định, hạ tầng từng bước hoàn thiện, điều kiện sống của người dân được cải thiện.
Vẻ đẹp tráng lệ, kỳ vĩ của vùng non nước sơn thủy hữu tình
Nhà máy Thủy điện Sơn La hiện cho phép khách tham quan tại một số khu vực theo quy định. Hoạt động này góp phần giúp công chúng tiếp cận trực quan với một trong những công trình năng lượng quy mô lớn nhất cả nước.
Trên đỉnh đồi gần với thân đập của nhà máy, một đài tưởng niệm đã được xây dựng như một sự tri ân công sức, mồ hôi, nước mắt của những người tham gia lao động trên công trường thủy điện Sơn La.
Từ các điểm quan sát, có thể nhận diện rõ quy mô của tuyến đập dài gần 1km, phân tách dòng chảy sông Đà giữa khu vực thượng lưu và hạ lưu. Không gian lòng hồ kết hợp với địa hình núi đồi đặc trưng của Tây Bắc tạo nên cảnh quan đặc thù, đồng thời phản ánh sự thay đổi lớn về địa mạo sau khi công trình đi vào vận hành. Tuyến đường vào nhà máy, cách trung tâm Sơn La khoảng 40km, đã được đầu tư nâng cấp, thuận lợi cho việc tiếp cận.
Năm 2024, hồ thuỷ điện Sơn La được đưa vào danh mục là khu du lịch tiềm năng phát triển thành khu du lịch quốc gia. Công trình Thủy điện Sơn La có lưu vực lòng hồ rộng 43.760 km², dung tích hồ chứa 9,26 tỷ m³ nước. Phần diện tích lòng hồ trên địa bàn tỉnh Sơn La phân bố tại các khu vực Quỳnh Nhai, Thuận Châu và Mường La, với quy mô gần 4.000km², chiếm khoảng 30% diện tích toàn tỉnh. Đặc điểm địa chất núi đá vôi cùng hệ thống thung lũng, sườn núi tạo điều kiện hình thành cảnh quan mặt nước xen kẽ núi đồi, mở ra tiềm năng phát triển các loại hình du lịch sinh thái, trải nghiệm.
Tại Quỳnh Nhai, các sản phẩm du lịch từng bước được hình thành với một số điểm đến như vịnh Uy Phong, vịnh Bình Yên, khu du lịch sinh thái Pauon Ecolakes, đảo Trái Tim, đảo Đà Giang, khu du lịch văn hóa tâm linh. Trong những năm gần đây, địa bàn này thu hút 5 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn khoảng 162 tỷ đồng, đón khoảng 1,25 triệu lượt khách, doanh thu ước đạt 600 tỷ đồng.
Tại Mường La - nơi đặt nhà máy, du lịch lòng hồ đang trong giai đoạn phát triển. Bên cạnh cảnh quan hồ chứa, khu vực còn có các công trình như đập thủy điện Nậm Chiến, Nhà máy thủy điện Huổi Quảng - nhà máy thủy điện ngầm đầu tiên do Việt Nam thiết kế, cùng hệ thống suối khoáng nóng, các bản làng dân tộc và mô hình nuôi cá tầm quy mô lớn. Những yếu tố này đang từng bước hình thành sản phẩm “du lịch thủy điện” gắn với đặc trưng địa phương.
Việc khai thác du lịch lòng hồ Thủy điện Sơn La được xác định là hướng phát triển bổ trợ, góp phần tạo sinh kế, cải thiện đời sống người dân khu vực tái định cư, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng bền vững.